Nhằm tạo điều kiện cho các sinh viên chuyên ngành Quản trị khách sạn và các sinh viên mong muốn được làm việc trong các khách sạn/ nhà hàng được học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm làm việc thực tế, đồng thời tiếp cận với những cơ hội làm việc, thực tập thuộc chuỗi nhà hàng, Khoa Du lịch học phối hợp với công ty EVIVA và nhà hàng Mỹ Tường Viên tổ chức chương trình "Chia sẻ kinh nghiệm và cơ hội làm việc trong ngành ẩm thực tại Việt Nam".

Thời gian: 13:00 - 15:30, ngày 24 tháng 01 năm 2018

Địa điểm: Phòng G102, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Chương trình chi tiết:

- 13h00-13h05: Giới thiệu tổng quan chương trình (TS. Nguyễn Ngọc Dung, phó Trưởng Khoa Du lịch học)

- 13h05-13h15: Giới thiệu diễn giả (mỗi diễn giả có 5' giới thiệu về kinh nghiệm cá nhân của mình)

- 13h15-13h30:  Chị Nguyễn Thùy Dương, Phó Giám đốc EVIVA, giới thiệu về công ty Eviva

- 13h30 - 13h50: Anh Hoàng Dân kể câu chuyện và trải nghiệm thực tế

- 13h50 - 14h00: Giới thiệu các nhà hàng và cơ hội thực tập + làm việc part-time và fulltime tại các nhà hàng thuộc chuỗi

- 14 h00 -15h15: Q&A có liên quan đến F&B, lữ hành và các thông tin thực tập và đi làm việc sau khi ra trường khác

- 15h15-15h30: Tổng kết.

Hội thảo được dự kiến tổ chức trong ba ngày 26-27-28/9/2018 tại Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thái Lan. Đại diện ban lãnh đạo của Trường ĐHKHXH&NV sẽ tham gia vào Ban tổ chức hội thảo. Hội thảo có mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa các đơn vị thành viên cốt lõi của KoSASA, thông qua trao đổi và đào sâu những định hướng mới nhằm thúc đẩy Hàn Quốc học tại Đông Nam Á trong thời gian tới. Các tham luận sẽ tập trung vào những vấn đề quan trọng và cấp thiết với kinh tế, xã hội, văn hóa Hàn Quốc hiện nay từ góc nhìn Đông Nam Á.

Theo dự kiến, nội dung hội thảo được chia làm bốn phiên: (i) Diễn đàn Hiệu trưởng, trong đó đại diện của 9 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á sẽ trình bày các chiến lược hợp tác nghiên cứu quốc tế, (ii) tọa đàm về Giáo dục Hàn Quốc học tại Đông Nam Á, (iii) tọa đàm trình bày các kết quả hợp tác nghiên cứu KHXH&NV giữa các trường đại học chủ chốt ở Đông Nam Á, (iv) hội thảo chuyên đề về Đào tạo Hàn ngữ, nhằm đánh giá tình hình và chia sẻ các kinh nghiệm đào tạo Hàn ngữ hiện nay tại Đông Nam Á, Úc, Hàn Quốc .

Với tư cách một thành viên trong Ban Cố vấn KoSASA, GS.TS Phạm Quang Minh cam kết sẽ nỗ lực hết sức để đảm bảo thành công của hội thảo quốc tế quan trọng này. Giáo sư Hiệu trưởng cũng sẽ gửi lời mời viết bài tới các giảng viên, nghiên cứu viên Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN có quan tâm tới các chủ đề của hội thảo.

GS. TS Phạm Quang Minh tặng quà lưu niệm cho GS. Kwon Geong Ho

GS. TS Phạm Quang Minh và cán bộ Nhà trường chụp ảnh lưu niệm với GS. Kwon Geong Ho

KoSASA là một tổ chức/diễn đàn học thuật được thành lập vào năm 2004 tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM theo hợp tác với Đại học New South Wales Australia và Korea Foundation. KoSASA có nhiệm vụ hỗ trợ, thúc đẩy nghiên cứu, giảng dạy Hàn Quốc học và áp dụng tri thức Hàn Quốc học tại các quốc gia Đông Nam Á. KoSASA tổ chức hội nghị 2 năm một lần để tổng kết, đánh giá hoạt động của các trường thành viên đối tác trong suốt 2 năm qua, đồng thời triển khai hoặc đề xuất triển khai các hạng mục hợp tác mới. Tại Việt Nam, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGTPHCM và ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN là hai đối tác tích cực của KoSASA, từng đăng cai tổ chức hội nghị thành lập KoSASA năm 2004 tại TPHCM và hội nghị thường niên năm 2012 tại Hà Nội.

Tại buổi làm việc, GS.TS Phạm Quang Minh nhấn mạnh: đẩy mạnh hợp tác, giao lưu quốc tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm và nền tảng cho sự phát triển của Nhà trường. Trường đã hợp tác với nhiều đại học nổi tiếng của Pháp như Đại học Toullouse II, Nhóm các trường đại học Sorbonne, Paris … Nhà trường mong muốn sớm thiết lập hợp tác với ĐH Aix Marseille thông qua các hoạt động như trao đổi giảng viên, sinh viên, tổ chức các hội thảo khoa học và thực hiện các đề tài nghiên cứu chung.

Đáp lại, ông Michel Dolinski gửi lời cảm ơn tới sự đón tiếp nhiệt tình của Nhà trường và nhất trí tăng cường hợp tác giữa ĐHKHXH&NV với ĐH Aix Marseille trong những lĩnh vực mà GS.TS Phạm Quang Minh đề xuất. Ông cũng chia sẻ các ý tưởng hợp tác với đại diện của các Khoa, Bộ môn có mặt tại buổi làm việc.

GS.TS Phạm Quang Minh chia sẻ những ý kiến của TS. Marianna Losada và khẳng định, sự mở rộng hợp tác với các đối tác trong và ngoài khu vực là phù hợp với mục tiêu quốc tế hóa hoạt động đào tạo của Nhà trường. Hiệu trưởng tin tưởng rằng, sự hợp tác giữa ĐHKHXH&NV với ĐH Aix Marseille sẽ góp phần quan trọng trong thúc đẩy hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Pháp.

GS.TS Phạm Quang Minh tặng quà lưu niệm cho ông Michel Dolinsk

GS.TS Phạm Quang Minh và các cán bộ Nhà trường chụp ảnh lưu niệm với ông Michel Dolinski

ĐH Marseille được thành lập năm 1409 ở Aix Marseille do kiến nghị của ngài Bá tước của Provence (Louis II của Anjou) và được hợp nhất từ ba trường đại học cũ của Aix-Marseille: Đại học Provence Aix-Marseille I, Đại học Méditerrannée Aix-Marseille II & Đại học Paul Cézanne Aix-Marseille III vào ngày 01/01/2012. ĐH Aix Marseille đào tạo khoảng 77.000 sinh viên trong đó có 10.000 sinh viên quốc tế. Aix Marseille có 12 khoa đào tạo Tiến sĩ; 5 phân hiệu chính tại Aix-en Provence và Marseil. ĐH Aix Marseille có hơn 8.000 cán bộ (trong đó hơn 3.000 cán bộ quản lý và hơn 4.000 giảng viên), 3.300 nghiên cứu sinh, hơn 130 tổ chức sinh viên.

 

Buổi làm việc xoay quanh kế hoạch tổ chức một hội thảo quốc tế về Nho học tại Trường ĐHKHXH&NV. Hội thảo dự kiến được tổ chức vào giữa tháng 11/2018 với sự tham gia của 50 đại biểu đến từ các quốc gia là Việt Nam, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước Châu Âu. Hội thảo tập trung vào sự so sánh, đối chiếu tư tưởng Nho học giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Thay mặt Viện T’oegyehak Quốc tế, GS. Lee Kwang Ho gửi lời cảm ơn chân thành tới Nhà trường đã nhận lời mời đồng tổ chức một hội thảo quốc tế lớn. Viện T’oegyehak Quốc tế được thành lập năm 1970 và đã tổ chức nhiều hội thảo tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, các nước Châu Âu, v,v… Ông cho biết, hội thảo lần này sẽ là cơ hội để phía bạn chia sẻ các nghiên cứu về tư tưởng của Toegye Yi Hwang, một trong hai nhà Nho học nổi tiếng nhất của thời đại Joseon, Hàn Quốc. Ông cũng hy vọng hai bên sẽ triển khai nhiều hoạt động hợp tác về nghiên cứu Nho giáo trong tương lai, nhằm tăng cường sự hiểu biết chung và tìm ra những giá trị mới của Nho học.

Thay mặt Trường ĐHKHXH&NV, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa cho rằng, đây là cơ hội để các nghiên cứu viên, giảng viên của Nhà trường trình bày các kết quả nghiên cứu về Nho học của mình. Với cái nôi Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Nhà trường có truyền thống lâu đời trong truyền đạt và quảng bá các kiến thức về Nho học, nhất là tại các đơn vị như Khoa Văn học, Khoa Đông phương học, Khoa Triết học. Phó Hiệu trưởng khẳng định, với kinh nghiệm tổ chức nhiều hội thảo quốc tế lớn, Nhà trường hoàn toàn có thể đáp ứng các yêu cầu từ phía Viện T’oegyehak Quốc tế.

PGS. TS Trần Thị Minh Hòa nhận quà lưu niệm từ GS. Lee Kwang Ho

PGS. TS Trần Thị Minh Hòa và cán bộ Nhà trường chụp ảnh lưu niệm với GS. Lee Kwang Ho

Sau buổi gặp mặt, đại diện hai bên sẽ tiếp tục thảo luận những nội dung cụ thể về hội thảo. Phòng Hợp tác và Phát triển là đầu mối liên lạc chính của Nhà trường cho hoạt động hợp tác này.

1. Về kiến thức và năng lực chuyên môn

1.1. Về kiến thức

Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo có kiến thức lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực đào tạo; nắm vững kỹ thuật và có kiến thức thực tế để có thể giải quyết các công việc phức tạp; tích luỹ được kiến thức nền tảng về các nguyên lý cơ bản, các quy luật tự nhiên và xã hội trong lĩnh vực được đào tạo để phát triển kiến thức mới và có thể tiếp tục học tập ở trình độ cao hơn; có kiến thức quản lý, điều hành, kiến thức pháp luật và bảo vệ môi trường liên quan đến lĩnh vực được đào tạo; và có kiến thức cụ thể và năng lực chuyên môn như sau:

1.1.1. Kiến thức chung:

- Nhớ, hiểu, giải thích được kiến thức và phương pháp luận của CN Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng;

- Nhớ và hiểu kiến thức về Đường lối cách mạng Việt Nam nhằm xây dựng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng;

- Có khả năng sử dụng ngoại ngữ cơ bản với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tương đương bậc 3 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

1.1.2. Kiến thức theo lĩnh vực

- Áp dụng được kiến thức cơ bản về kinh tế,  văn hóa,  lịch sử, xã hội học, tâm lý học, lôgic học, nhà nước và pháp luật vào nghiên cứu khoa học quản lý;

- Phân tích được những kiến thức cơ bản của khoa học quản lý trong một số lĩnh vực của khoa học tự nhiên như môi trường và sự phát triển;

- Áp dụng được kiến thức cơ bản về các phương pháp nghiên cứu khoa học thống kê cho khoa học xã hội, biết cách triển khai đề tài/dự án nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội;

- Vận dụng kiến thức về thực hành văn bản tiếng Việt trong nghiên cứu các vấn đề khoa học quản lý;

- Áp dụng được kiến thức trong việc khai thác, tổ chức, sử dụng thông tin một cách hiệu quả, phù hợp với các chuẩn mực khoa học, đạo đức, pháp luật nhằm nâng cao kết quả học tập và sẵn sàng cho khẳ năng học tập suốt đời.

1.1.3. Kiến thức theo khối ngành

- Vận dụng kiến thức về quản lý trong kinh doanh, thông tin học, địa lý thế giới để tìm hiểu giải quyết các vấn đề thực tiễn quản lý đặt ra;

- Áp dụng được kiến thức cơ bản về khoa học quản lý, nguyên tắc, phương pháp, quy trình quản lý vào thực tiễn;

- Áp dụng được kiến thức khoa học quản lý vào quản lý nguồn nhân lực của một tổ chức nói riêng và nguồn nhân lực xã hội nói chung;

- Vận dụng kiến thức về lý thuyết hệ thống nói chung và lý thuyết hệ thống trong quản lý để nghiên cứu các vấn đề của khoa học quản lý;

- Vận dụng các kiến thức về văn hóa và đạo đức quản lý, văn hóa tổ chức trong thực tiễn quản lý.

1.1.4. Kiến thức nhóm ngành

- Hiểu, phân tích được những kiến thức cơ bản về hành chính, bao gồm cả hành chính công và hành chính tư, pháp luật hành chính;

- Áp dụng được kiến thức về sở hữu trí tuệ với tư cách là tài sản vô hình trong quản lý một tổ chức;

- Áp dụng được kiến thức về xã hội học trong quản lý, xử lý dữ liệu trong thực tiễn quản lý, soạn thảo và ban hành văn bản quản lý, nghiệp vụ thư ký, quản lý biến đổi của tổ chức.

1.1.5. Kiến thức ngành

- Nhớ được kiến thức về lịch sử tư tưởng quản lý, phân tích được sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến khoa học quản lý;

- Nhớ, phân tích được kiến thức về khoa học tổ chức, khoa học chính sách, khoa học và công nghệ, lý thuyết ra quyết định quản lý, quản lý chất lượng, quản lý tài chính công, quản lý dự án, quản lý tài sản công;

- Nhớ kiến thức về kỹ năng quản lý từ đó áp dụng hình thành các kỹ năng quản lý thực tế;

- Áp dụng kiến thức khoa học quản lý vào thực tiễn quản lý nguồn nhân lực, bao gồm: pháp luật lao động và việc làm; công tác tổ chức lao động khoa học; xây dựng và tổ chức thực hiện định mức lao động; tìm hiểu nguyên tắc trả lương, hình thức, phương pháp trả lương; phân tích các loại hình bảo hiểm xã hội; công tác tuyển dụng lao động;

- Áp dụng kiến thức khoa học quản lý vào thực tiễn thực hiện các chính sách xã hội: chính sách trợ giúp xã hội; chính sách giảm nghèo bền vững; chính sách quản lý văn hóa, giáo dục; chính sách phòng chống tệ nạn xã hội; chính sách dân tộc và tôn giáo, chính sách an sinh xã hội;

- Áp dụng kiến thức khoa học quản lý vào thực tiễn quản lý sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan; sáng chế và giải pháp hữu ích; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu và các chỉ dẫn thương mại khác; quản lý sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp;

- Áp dụng kiến thức khoa học quản lý vào thực tiễn quản lý khoa học và công nghệ, bao gồm pháp luật về khoa học và công nghệ, chính sách khoa học và công nghệ, nghiên cứu xã hội về khoa học, công nghệ và môi trường, hệ thống đổi mới quốc gia, doanh nghiệp khoa học và công nghệ;

- Áp dụng kiến thức khoa học quản lý vào thực tiễn quản lý hành chính cấp cơ sở: phân cấp quản lý hành chính, Quản lý cấp cơ sở về kinh tế, Quản lý cấp cơ sở về văn hóa xã hội, dịch vụ công, đại cương quản lý cấp cơ sở;

- Hiểu và đánh giá các vấn đề đương đại trong quản lý như: Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, quản lý biển đảo, đổi mới chính sách giáo dục, chính sách y tế…

1.1.6. Kiến thức về tin học

- Vận dụng được kiến thức cơ bản về tin học vào hoạt động quản lý, tư vấn quản lý, nghiên cứu khoa học: sử dụng được phần mềm tin học văn phòng, phần mềm xử lý dữ liệu SPSS, một số phần mềm quản trị nhân lực thông dụng ở Việt Nam.

1.2. Năng lực tự chủ và trách nhiệm

- Có năng lực dẫn dắt về chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo; có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; có khả năng tự định hướng, thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau; tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có khả năng đưa ra được kết luận về các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ thông thường và một số vấn đề phức tạp về mặt kỹ thuật; có năng lực lập kế hoạch, điều phối, phát huy trí tuệ tập thể; có năng lực đánh giá và cải tiến các hoạt động chuyên môn ở quy mô trung bình.

2. Về kỹ năng

2.1 Kỹ năng chuyên môn

2.1.1 Các kỹ năng nghề nghiệp:

- Có kỹ năng hoàn thành công việc phức tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý thuyết và thực tiễn của ngành được đào tạo trong những bối cảnh khác nhau; có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin, tổng hợp ý kiến tập thể và sử dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ để giải quyết những vấn đề thực tế hay trừu tượng trong lĩnh vực được đào tạo; có năng lực dẫn dắt chuyên môn để xử lý những vấn đề quy mô địa phương và vùng miền;

- Có kỹ năng lập kế hoạch công việc, dự án; hoạch định, phân tích, đánh giá chính sách: Phân tích dự báo môi trường, Xác định mục tiêu; phương án thực hiện mục tiêu, xác định nguồn lực thực hiện kế hoạch, dự án, chính sách; Phân tích ưu nhược điểm của kế hoạch, dự án, chính sách;

-  Có kỹ năng phân tích và thực hành các quyết định quản lý: Xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện các quyết định quản lý;

-  Có kỹ năng tổ chức thực hiện công việc: Thiết kế cơ cấu tổ chức và công việc; Phân công công việc; tổ chức lao động khoa học; kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện công việc;

- Có kỹ năng kiểm tra, đánh giá quy trình, hoạt động quản lý cụ thể: Thiết kế tiêu chuẩn kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả;

- Có kỹ năng phản biện chính sách kinh tế - xã hội: Đánh giá tác động của chính sách đến đời sống xã hội.

  1. Kỹ năng lập luận, tư duy và giải quyết vấn đề

- Nhận diện các vấn đề quản lý trong thực tiễn và có những phương pháp đánh giá, đề xuất phương án giải quyết theo quy trình nhất định;

- Nhận diện nhu cầu và các dạng động cơ làm việc; thúc đẩy tính tích cực của người lao động; sử dụng phong cách làm việc khoa học; tạo lập môi trường làm việc hiệu quả.

2.1.3. Kỹ năng nghiên cức và khám phá kiến thức

-  Phân tích, xây dựng các giả thuyết khoa học và thu thập các dữ liệu trong thực tiễn quản lý để chứng minh giả thuyết nghiên cứu;

-  Đề xuất các giải pháp quản lý để ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn quản lý.

2.1.4. Khả năng tư duy theo hệ thống

- Biết cách tư duy theo hệ thống kiến thức về lý thuyết quản lý vào thực tiễn quản lý;

- Nắm được sự liên hệ giữa quản lý từ Trung ương xuống cơ sở trên các lĩnh vực khoa học công nghệ, hành chính, quản lý cấp cơ sở, quản lý nguồn nhân lực, chính sách xã hội để thấy được tính hệ thống và tổng thể của các chính sách và quá trình triển khai chính sách;

- Nhận thức vấn đề theo hệ thống, toàn diện vì vậy các giải pháp đưa ra luôn vì mục tiêu chung của tổ chức, tập thể;

- Kết hợp kiến thức liên ngành trong việc nghiên cứu vấn đề và tìm giải pháp;

- Đề xuất những vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong công việc.

 

2.1.5. Bối cảnh xã hội và ngoại cảnh

- Đánh giá được bối cảnh xã hội về các vấn đề quản lý trong nước và quốc tế;

- Đưa ra dự báo đối với vấn đề quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ…;

- Học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng quản lý của các quốc gia trên thế giới.

2.1.6. Bối cảnh của tổ chức

- Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, nguồn lực thông tin của một tổ chức;

- Phân biệt được các loại hình tổ chức và cách thức quản lý riêng biệt của từng loại hình tổ chức đó;

- Đưa ra những đề xuất quy hoạch cán bộ, phát triển tổ chức.

2.1.7. Năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn.

- Vận dụng kiến thức quản lý vào giải quyết công việc, giải quyết tình huống, giải quyết vấn đề quản lý của tổ chức một cách linh hoạt, khoa học, khách quan;

- Sử dụng các kỹ năng quản lý nhuần nhuyễn, hiệu quả đem lại giá trị cho tổ chức, cho bản thân.

2.1.8. Năng lực sáng tạo, phát triển, dẫn dắt sự thay đổi trong nghề nghiệp

- Có khả năng vạch ra lộ trình thăng tiến và lộ trình công việc rõ ràng;

- Làm chủ trong công việc và cân bằng giữa công việc và cuộc sống;

 - Có khả năng tiếp thu những kỹ năng mới và đào tạo những kỹ năng quản lý cho người khác.

2.2. Kỹ năng bổ trợ

2.2.1 Kỹ năng cá nhân

- Thích ứng nhanh với sự thay đổi của công việc, môi trường làm việc và của tổ chức;

- Sắp xếp công việc khoa học, hiệu quả. Biết phân chia công việc thành các giai đoạn khác nhau để triển khai;

- Dễ trao đổi học hỏi kinh nghiệm quản lý từ đồng nghiệp, nhà quản lý và những nguời khác.

2.2.2. Kỹ năng giao tiếp

- Biết chủ động thiết lập các cuộc trao đổi về các vấn đề thuộc khoa học quản lý và các vấn đề thuộc các khoa học khác có liên quan đến khoa học quản lý;

- Có khả năng tự tin, mềm dẻo, đàm phán, thuyết phục người khác khi thảo luận và thực hiện quyết định của chủ thể quản lý.

2.2.3 Kỹ năng quản lý và lãnh đạo

- Có khả năng tổ chức các hoạt động của một cơ quan, tổ chức;

- Có khả năng soạn thảo quyết định quản lý và truyền đạt quyết định quản lý;

- Có khả năng tổ chức thực hiện quyết định quản lý.

2.2.4 Kỹ năng làm việc theo nhóm

- Biết và chủ động tham gia các nhóm trong các hoạt động: học tập, nghiên cứu, hoạt động đoàn thể, xã hội;

- Có khả năng thành lập các nhóm nghiên cứu, giảng dạy, hoạt động xã hội;

- Tạo lập và phát huy vai trò của nhóm trong các hoạt động của cộng đồng.

2.2.5 Kỹ năng giải quyết vấn đề

- Biết nhận diện, phân tích những vấn đề và xung đột trong các mối quan hệ và trong tổ chức;

- Sử dụng các công cụ quản lý để giải quyết vấn đề và xung đột;

- Điều hòa hoặc giải quyết các vấn đề, xung đột theo hướng có lợi cho tổ chức, tập thể.

2.2.6 Kỹ năng thuyết trình

- Nêu ý tưởng và cấu trúc vấn đề để thuyết trình;

- Đưa ra nhiều phương pháp thuyết trình trước đám đông, cuộc họp;

- Tổ chức trao đổi, thảo luận các ý kiến liên quan trong một buổi thuyết trình.

2.2.7 Kỹ năng quản lý bản thân

- Biết thiết lập mục tiêu cá nhân, mục tiêu công việc, mục tiêu nghề nghiệp để có sự đam mê trong lựa chọn và theo đuổi nghề nghiệp;

- Quản lý thời gian, quản lý cảm xúc cá nhân hiệu quả nhất;

- Vạch ra lộ trình thăng tiến, phát triển sự nghiệp của cá nhân;

- Biết cách gia tăng giá trị cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội và tạo lập kỹ năng học tập suốt đời.

2.2.8 Kỹ năng giao tiếp, sử dụng ngoại ngữ

- Có kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành ở mức có thể hiểu được các ý chính của một báo cáo hay bài phát biểu về các chủ đề quen thuộc trong công việc liên quan đến ngành được đào tạo; có thể sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt, xử lý một số tình huống chuyên môn thông thường; có thể viết được báo cáo có nội dung đơn giản, trình bày ý kiến liên quan đến công việc chuyên môn.

 3. Về phẩm chất đạo đức

3.1. Phẩm chất đạo đức cá nhân

- Trung thực, nhân ái, khiêm tốn, dũng cảm;

- Sáng tạo, say mê, tinh thần tự phê bình và phê bình;

- Tinh thần tự học, làm chủ bản thân.

3.2. Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp

- Thích ứng tốt với thực tế cuộc sống, với những sự thay đổi trong quản lý tổ chức;

- Lập trường vững vàng, xây dựng tố chất của nhà quản lý như dám chịu trách nhiệm (nhận trách nhiệm cá nhân trong khi thực hiện công việc);

- Tinh thần lạc quan trước những xung đột về lợi ích, mối quan hệ của bản thân, các cá nhân và của tổ chức để làm điều hòa các xung đột vì sự phát triển của tổ chức;

- Luôn cầu thị, khám phá và học hỏi từ thực tế tạo ra sự đổi mới cho tổ chức;

- Tôn trọng, công việc của chính mình, của người khác, công việc của tập thể từ đó có thể điều tiết mối quan hệ giữa công việc và cảm xúc, công việc và cuộc sống, giảm những stress trong công việc;

- Trung thực, cầu thị, tự tin, say mê, hy sinh vì công việc chung tổ chức, tiến tới xây dựng tác phong làm việc chuyên nghiệp, có kỷ luật lao động, văn hóa ứng xử văn minh.

3.3. Phẩm chất đạo đức xã hội

- Có trách nhiệm với hoạt động của cộng đồng, xã hội;

- Xây dựng văn hóa trách nhiệm, tạo dựng niềm tin trong cộng đồng các nhà quản lý, trong xã hội;

- Tuân thủ pháp luật, chính sách của nhà nước, chủ trương, chính sách của Đảng.

4. Những vị trí công tác mà người học có thể đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp

- Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo chuẩn ngành khoa học quản lý đáp ứng được yêu cầu của các vị trí quản lý, chuyên viên, tư vấn viên quản lý trong các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước khác ở trung ương hoặc địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, các tổ chức phi chính phủ; làm nguồn để tuyển chọn tiếp tục tham gia các chương trình đào tạo sau đại học.  

5. Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp

- Sinh viên có thể học chương trình đào tạo ngành kép, học hai chuyên ngành khi còn đang là sinh viên, sau khi ra trường học cao học ngành Khoa học quản lý và một ngành phù hợp với ngành Khoa học quản lý.

Chương trình có sự tham gia của PGS.TS Hoàng Anh Tuấn (Phó Hiệu trưởng Trường ĐHKHXHNV), TS Nguyễn Quang Liệu (Trưởng phòng Chính trị và công tác SV), ông Nguyễn Mộng Liêm (Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ Bất động sản Tân Kiến), ông Nguyễn Thế Hiệp (Giám đốc dự án Vinhomes Thăng Long) cùng đại diện lãnh đạo Khoa Khoa học quản lý và Khoa Triết học và các nhà tài trợ khác.

Tại buổi lễ, đại diện nhà tài trợ là Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ Bất động sản Tân Kiến đã trao số tiền tài trợ 100 triệu đồng cho 2 CLB: CLB Nhân lực thuộc LCĐ Khoa KHQL và CLB AMAP thuộc LCĐ Khoa Triết học.

Đích thân ông Nguyễn Mộng Liêm - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ Bất động sản Tân Kiến - đã trao số tiền này đến tận tay Nhà trường. Ông Liêm là cựu sinh K45 tốt nghiệp Khoa KHQL - tiền thân là bộ môn Quản lý xã hội thuộc Khoa Triết học, Trường ĐHKHXHNV. Ông gửi gắm mong muốn góp phần đào tạo nên thế hệ sinh viên Trường ĐHKHXHNV có năng lực và kiến thức vững vàng, xây dựng nên thương hiệu đào tạo mạnh của Nhà truòng đối với nhà tuyển dụng.

Phát biểu tại chương trình, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, Phó Hiệu trưởng Nhà trường bày tỏ niềm vui và cảm ơn sự hợp tác giữa Nhà trường với các công ty tài trợ. PGS.TS Hoàng Anh Tuấn chia sẻ: Trường ĐHKHXHNV có thế mạnh về nghiên cứu và đào tạo những ngành khoa học xã hội cơ bản. Nhưng bên cạnh đó, Nhà trường luôn mong muốn các kiến thức khoa học ấy được ứng dụng và đưa vào thực tiễn xã hội. Nhà trường cũng mở các CLB để sinh viên có cơ hội rèn luyện và trau dồi kiến thức chuyên môn nhiều hơn. CLB Nhân lực của LCĐ Khoa KHQL và CLB AMAP thuộc LCĐ Khoa Triết học là hai CLB tiêu biểu. Sự tài trợ của Công ty là động lực giúp các CLB và các em sinh viên có nhiều điều kiện hơn trong học tập và rèn luyện.

CLB Nhân lực và CLB AMAP dù tuổi đời còn trẻ, chỉ mới hoạt động được hơn 2 năm nay nhưng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. CLB AMAP triển khai nhiều hoạt động giúp đỡ các sinh viên trong học tập, đặc biệt là tổ chức các lớp học bổ trợ, hỗ trợ sinh viên vượt qua các kỳ thi. Còn CLB Nhân lực đã góp phần nâng cao năng lực cho sinh viên chuyên ngành Quản lý nguồn nhân lực, đồng thời cung cấp những dịch vụ nhân sự và việc làm cho các sinh viên.

Biết được hoạt động có ý nghĩa của 2 CLB trên, Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ Bất động sản Tân Kiến có nguyện vọng tài trợ một số tiền trong 4 năm để tổ chức các khóa đào tạo kĩ năng và trải nghiệm thực tế, thu hẹp khoảng cách đào tạo và sử dụng nhân lực giữa nhà trường và thị trường lao động.

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Phan Thị Hạnh         

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 29/07/1992

4. Nơi sinh: Vĩnh Phúc

5. Quyết định công nhận học viên số: 2415/2015/QĐ-XHNV ngày 13/10/2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

7. Tên đề tài luận văn: Sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn Hà Nội.

8. Chuyên ngành: Tâm lý học              Mã số: 60.31.04.01

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thị Linh, Khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:    

Hôn nhân và sự hài lòng trong hôn nhân là một chủ đề nhận được sự chú ý của học giả trên thế giới. Tuy nhiên đây vẫn còn là chủ đề khá mới đối với các học giả Việt Nam. Kết quả tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu về sự hài lòng trong nước chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh-thương mại với các nghiên cứu tìm hiểu sự hài lòng của khách hàng/ người tiêu dùng/ nhân viên về một loại sản phẩm, dịch vụ hay một mô hình kinh doanh nào đó;  Lĩnh vực giáo dục và đào tạo với các nghiên cứu liên quan tới sự hài lòng về chất lượng đào tạo, chương trình đào tạo, về giảng viên, công việc; Hoặc nghiên cứu về sự hài lòng trong lĩnh vực y tế; Hay rộng hơn là nghiên cứu về hài lòng với cuộc sống. Chưa có nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu sự hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ. Trong bối cảnh này, kết quả khảo sát số liệu trên cặp vợ chồng trí thức trẻ trên địa bàn Hà Nội cho thấy nhìn chung trí thức trẻ được hỏi khá hài lòng về đời sống hôn nhân của họ. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vợ và chồng về các khía cạnh hài lòng trong hôn nhân. Tình dục, số lượng con, nghề nghiệp, thu nhập, địa bàn cư trú, thời gian kết hôn có mối liên hệ với mức độ hài lòng với hôn nhân của các cặp vợ chồng được hỏi.

11. Khả năng ứng dụng trong  thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn là một tài liệu tham khảo có ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu đã chỉ ra cái nhìn rõ nét về thực trạng đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng trí thức trẻ, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống hôn nhân cho các cặp vợ chồng trí thức trẻ hiện nay.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

Nếu có điều kiện và thời gian, chúng tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm nhân cách của người bạn đời, cách ứng xử của người bạn đời trong mối quan hệ với bố mẹ vợ/chồng,  số năm kết hôn với sự hài lòng hôn nhân của các cặp vợ chồng.

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn: Không

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Phan Thi Hanh                         2.Sex: Female

3. Date of birth: 29/07/1992                          4. Place of birth: Vinh Phuc

5. Admission decision number: No. 2415/2015/QD-XHNV dated 13/10/2015 by the Rector of University of Social Sciences and Humanities, Hanoi National University

6. Changes in academic process: None.

7. Official thesis title: satisfaction with the marriage of young intellectuals in Hanoi

8. Major: Psychology                                     Code: 60.31.04.01

9. Supervisor:Dr. Trinh Thi Linh, Department of Psychology, University of Social Sciences and Humanities.

10. Summary of the results of the thesis:

Marriage and satisfaction in marriage is a subject that has attracted the attention of scholars around the world. However, this is still a new topic for Vietnamese scholars. The literature review shows that domestic satisfaction surveys are primarily focused on the business sector with the studies to find out satisfaction of customer / consumer / staff about a product, service or business model, Education and training sector with research related to the satisfaction of the quality of training, the training program, the trainers, the work; Or research on satisfaction in the health sector; Or broader is the study of satisfaction with life. There has been no study of young marital couples' satisfaction with the marriage. In this context, the results of survey data on the young intellectual couple in Hanoi show that young intellectuals in general are quite satisfied about their married life. There was a statistically significant difference between husband and wife regarding satisfaction aspects in marriage. Sex, the number of children, occupation, income, area residents, time married have relationship with satisfaction with the marriage of couples asked.

11. Applicability in practice:

Research results of thesis is a reference mean in scientific research. Studies have shown clarity about the situation marriage of young couples, from that proposed some recommendations to improve the quality of life marriage for couple’s young intellectuals now.

12. Further research directions:

If having conditions and time, we will study more deeply about the characteristics of the partner, how the partner behaves in relation to husband's / wife's parents, the number of years of marriage to the spouse Married couples of marriage.

13. Thesis-related publications: None

Đại diện Nhà trường giới thiệu và trao đổi với đoàn tham quan

Đại diện Nhà trường, TS. Phạm Huy Cường (Phó trưởng phòng Chính trị và Công tác Sinh viên) đã chào mừng đoàn tham quan và giới thiệu ngắn gọn về bề dày truyền thống, những thành tựu tiêu biểu và vị trí, vai trò của Nhà trường trong Đại học Quốc gia Hà Nội và trong hệ thống giáo dục cả nước.

Cùng đón tiếp đoàn, ThS. Nguyễn Văn Hồng (Phòng Đào tạo) đã giới thiệu với các thầy cô giáo và các em học sinh về các ngành đào tạo, cơ hội học tập cũng như điều kiện tuyển sinh vào trường trong năm học 2018-2019. Trong phần trao đổi thảo luận, thông qua các câu hỏi từ phía đoàn tham quan, đại diện Nhà trường đã chia sẻ thêm về các cơ hội học tập, học bổng, các hoạt động tư vấn hỗ trợ đối với sinh viên trong quá trình học tập tại trường. Các em học sinh đặc biệt quan tâm tới định hướng nghề nghiệp gắn với từng ngành đào tạo ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Buổi tham quan kết thúc rất hào hứng khi đại diện Nhà trường đưa đoàn đi tham quan, giới thiệu cơ sở vật chất phục vụ hoạt động học tập và nghiên cứu trong trường.

Các em học sinh đến từ THPT Vân Nham đã có một buổi trao đổi bổ ích về định hướng nghề nghiệp và các điều kiện học tập tại Trường ĐHKHXH&NV

Kết thúc buổi tham quan, đại diện hai bên đã thống nhất sẽ tiếp tục duy trì các hoạt động phối hợp nhằm giới thiệu cơ hội học tập, định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh hằng năm. Đánh giá cao ý nghĩa thiết thực của hoạt động này đối với các em học sinh cũng như công tác đào tạo của Trường, đại diện Nhà trường cũng đề nghị phía Trường THPT Vân Nham thông tin đến các đơn vị trên địa bản huyện Hữu Lũng và rộng hơn là tỉnh Lạng Sơn để cùng phối hợp tổ chức các hoạt động tương tự với quy mô lớn hơn. 

Các em học sinh không giấu được niềm vui khi lần đầu tiên được đến thăm Trường ĐHKHXH&NV - ngôi trường hàng đầu về nghiên cứu và đào tạo các ngành KHXH&NV của cả nước

GS.TS Nguyễn Văn Khánh - Viện trưởng Viện Chính sách và Quản lý, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV

- Thưa GS, IPAM đã có chặng đường phát triển như thế nào để có được vị trí như ngày hôm nay ?

Năm 2002, Trường ĐHKHXH&NV là đối tác đầu tiên của Quỹ Rosa Luxemburg tại Việt Nam. Lúc bấy giờ, Chương trình nghiên cứu Xã hội học về môi trường và phát triển do PGS.TS Vũ Cao Đàm làm chủ nhiệm được giao trực tiếp triển khai hoạt động hợp tác này. Dự án nghiên cứu chung đầu tiên giữa hai bên là về lĩnh vực chính sách. Các chuyên gia Đức và Việt Nam đặt mục tiêu ban đầu là làm các dự án giúp nâng cao năng lực phân tích chính sách trong cộng đồng, trước hết là trong các cơ quan lập pháp và các cơ quan hành pháp của Việt Nam. Đây là một lĩnh vực khoa học không mới trên thế giới song còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Thực tiễn cũng cho thấy những người làm chính sách ở các cơ quan trung ương và địa phương ở Việt Nam đa phần đều là “tay ngang”, không được đào tạo bài bản về lĩnh vực này. Đây là một khoảng trống khá lớn trong công tác làm chính sách mà các chuyên gia Đức và Việt Nam đã nhìn ra.

Sự gặp nhau giữa các chuyên gia Đức và chuyên gia của Trường ĐHKHXH&NV đã đem đến những hoạt động chung thú vị và hữu ích cho cả hai bên. Viện Rosa Luxemburg đã tạo điều kiện để trong những năm đầu các đoàn chuyên gia và lãnh đạo của Việt Nam được đến nước Đức học tập, nghiên cứu kinh nghiệm về kỹ năng phân tích chính sách, nhất là của đảng cách tả của Cộng hòa Liên bang Đức. Những cuộc đối thoại chính sách, tọa đàm và hội thảo về chính sách được tổ chức xoay quanh các chủ đề về: các giá trị của chủ nghĩa xã hội dân chủ, tương tác giữa chính sách và văn hóa, lý luận Cánh Tả trong đời sống xã hội hiện đại đến những vấn đề rất cụ thể trong chính sách khoa học và giáo dục trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường...

Có thể nói, chính sự nhiệt tâm của các bạn Đức và sự tâm huyết của các nhà khoa học Việt Nam đã giúp hình thành nên những tài liệu, sách tham khảo, giáo trình và hệ thống lý thuyết về khoa học chính sách tại Trường ĐHKHXH&NV. Hoạt động đào tạo trong lĩnh vực khoa học chính sách và quản lý cũng được IPAM phát triển mạnh. IPAM trở thành mô hình viện nghiên cứu chính sách đầu tiên trong một trường đại học. Giờ đây nhắc đến lĩnh vực nghiên cứu chính sách và quản lý là người ta nhớ tới IPAM mà tiền thân là CEPSTA như một đơn vị nghiên cứu tiên phong và có uy tín của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và ở Việt Nam.

Cũng phải chia sẻ thêm rằng, hoạt động hợp tác giữa một trường đại học Việt Nam với một quỹ quốc tế như Rosa Luxemburg kéo dài đến nay là 15 năm - là một mối quan hệ hợp tác bền vững và dài lâu, thậm chí là hiếm có. Thông thường vòng đời của một hoạt động hợp tác như vậy thường chỉ từ 3-5 năm. Nhưng với IPAM, hoạt động hợp tác này bắt đầu từ một hướng nghiên cứu cụ thể trong khoa học chính sách, giờ đã ngày càng mở rộng ra thêm nhiều hướng nghiên cứu mới và đi vào chiều sâu. Chúng tôi vẫn còn đang có nhiều ý tưởng nghiên cứu mới và các dự án hợp tác chung cùng nhau trong hiện tại và tương lai. Chính vì thế có thể nói rằng hợp tác với Rosa Luxemburg là một quan hệ hợp tác đặc biệt, lâu dài, truyền thống và thực sự rất hiệu quả, đem lại nhiều giá trị cho cả hai bên.

Một lớp tập huấn về kỹ năng phân tích chính sách mà IPAM tổ chức tại địa phương

Hinh ảnh một lớp tập huấn cho giảng viên do IPAM và Rosa Luxemburg tổ chức với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài tại Trường ĐHKHXH&NV.

- Đâu là những dấu ấn nổi bật nhất của IPAM trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo chính sách và quản lý thưa GS ?

Dù tuổi đời non trẻ song kế thừa nền tảng hợp tác 15 năm với Rosa Luxemburg, IPAM đã làm được rất nhiều việc.

Trong lĩnh vực đào tạo, IPAM đã tổ chức hơn 40 khóa tập huấn cho các cán bộ làm về chính sách trên khắp các tỉnh thành địa phương cả nước, từ trong Nam ra ngoài Bắc, không chỉ ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh mà còn ở cả các tỉnh phía Nam như Bạc Liêu, Cần Thơ... Nội dung các khóa này được đa dạng hóa, từ kỹ năng phân tích chính sách, hoạch định chính sách, đánh giá chính sách, phản biện chính sách, đến kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng phân tích các văn bản quy phạm pháp luật... Các khóa học này được thiết kế gắn với thực tế đối thoại chính sách tại các địa phương và được đón nhận rất nồng nhiệt do hiệu quả thực tế mà nó mang lại cho địa phương.

Đặc biệt, từ 2009-2012, IPAM được Văn phòng Quốc hội đặt hàng mở các lớp tập huấn chính sách cho các chuyên viên thuộc Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Trung ương Đảng, IPAM cũng đảm nhận việc cung cấp tài liệu về kỹ năng phân tích chính sách cho các đại biểu Quốc hội khóa 13 và 14. Đây là một trong những thành tích nổi bật nhất của IPAM nhằm trực tiếp đóng góp vào thực tiễn hoạt động hoạch định chính sách tại Việt Nam.

Cùng với Khoa Khoa học Quản lý của Trường, IPAM góp phần xây dựng nội dung các chương trình đào tạo dài hạn về Chính sách trong chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ bậc Thạc sỹ và Tiến sỹ, bậc Thạc sỹ chuyên ngành Chính sách Công. Đây đều là những chương trình đào tạo tiên phong tại Việt Nam mà IPAM tham gia xây dựng và sẽ tham gia triển khai đào tạo.

Về nghiên cứu, IPAM góp phần quan trọng hình thành nên một trường phái nghiên cứu về khoa học chính sách tại Trường ĐHKHXH&NV trên nền tảng hệ thống giáo trình, tài liệu nghiên cứu về khoa học chính sách và các lĩnh vực chính sách cụ thể như chính sách khoa học và giáo dục; chính sách khoa học và công nghệ và đổi mới, sáng tạo; chính sách phát triển vùng; lý thuyết quyết định phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo...

Một hướng nghiên cứu có giá trị khác của IPAM và Rosa Lucxembourg là về mô hình phát triển của các quốc gia, vai trò của Nhà nước và sự tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của các tổ chức xã hội dân sự và doanh nghiệp. Dự án Lựa chọn lý luận Cánh Tả đã mở rộng các cơ hội trao đổi và tiếp cận các lý thuyết phát triển thông qua các tọa đàm, hội thảo với các chuyên gia của các nước Phi châu và Mỹ La tinh như Algeria, Cuba, Venezuela...

Tiến thêm một bước nữa là các hoạt động học thuật hợp tác giữa hai bên về các vấn đề chính sách khoa học và giáo dục: triết lý phát triển, nghịch lý của khoa học và giáo dục trong xã hội đương đại Việt Nam... Dự án giáo dục đã triển khai các nghiên cứu về nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên... Năm 2017, trong khuôn khổ hợp tác của hai bên, Tọa đàm về “Chính sách Khoa học và Giáo dục…” với sự tham gia của các Đại biểu Quốc hội, lãnh đạo các ủy ban trực thuộc Quốc hội, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đã đưa ra các vấn đề thảo luận về triết lý và những vấn đề thời sự được dư luận quan tâm trong lĩnh vực khoa học và giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Một dấu ấn nữa cần được nhắc đến là IPAM đã hình thành nên một nhóm nghiên cứu được ĐHQGHN công nhận là nhóm nghiên cứu mạnh cấp ĐHQGHN. Gần đây nhất, IPAM đã đề xuất và được ĐHQGHN đồng ý đề nghị phát triển thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm cấp ĐHQGHN - đơn vị đầu tiên và duy nhất hiện nay của Trường có sự công nhận đặc biệt như vậy.

Lễ ký thoả thuận hợp tác và trao tặng sách cho Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội

IPAM và Trường ĐHKHXH&NV trao tặng sách về phân tích và hoạch định chính sách cho Thư viện Quốc hội

- IPAM định vị mình như thế nào trong tương quan so sánh với các đơn vị nghiên cứu về khoa học chính sách khác tại Việt Nam thưa GS.?

Sự ra đời của IPAM với sự kết hợp giữa phân hệ đào tạo và phân hệ nghiên cứu, là một mô hình Think tank điển hình trong lĩnh vực chính sách và quản lý. Slogan của Viện là “Ý tưởng - Nhận thức - Đổi mới” với mong muốn đi từ ý tưởng mới về nghiên cứu chính sách để dẫn tới sự thay đổi về tư duy, nhận thức trong lĩnh vực chính sách, cuối cùng nhằm thúc đẩy những thay đổi tích cực trong thực tiễn hoạt động chính sách tại Việt Nam.

IPAM là mô hình viện nghiên cứu trong trường đại học, triển khai song song cả hoạt động nghiên cứu làm nền tảng và từ đó đẩy mạnh hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, đưa giảng đường đại học đến gần hơn với các cơ quan hoạch định chính sách. IPAM đi sâu vào khoa học chính sách trong tương quan với lĩnh vực khoa học chính trị và đặc biệt tập trung hơn vào các lĩnh vực chính sách trong khoa học và giáo dục. Điều này khác biệt với một số đơn vị nghiên cứu chính sách khác của Bộ Khoa học và Công nghệ hay một số cơ quan khác trong ngành văn hóa. 

Về cơ cấu tổ chức, IPAM hoạt động theo cơ chế tự chủ, biên chế tinh giản gọn nhẹ. Viện không phụ thuộc vào các nguồn đề tài dự án của Nhà nước mà chủ động tìm kiếm các nguồn đề tài, dự án từ bên ngoài. Dù nhân lực không nhiều song nhờ xây dựng được mạng lưới hợp tác rất rộng với các chuyên gia về chính sách ở các đơn vị bên ngoài mà Viện vẫn triển khai, hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ khoa học lớn. Từ góc độ mô hình phát triển, IPAM xứng đáng là một mô hình hiệu quả và cần được nhân rộng tại các trường đại học, nhất là trong bối cảnh tự chủ đại học đang trở thành xu thế và yêu cầu tất yếu tại Việt Nam.

IPAM tổ chức được nhiều hội thảo quốc tế lớn, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà quản lý trong và ngoài nước, đề cập đến nhiều vấn đề lớn trong hoạch định chính sách và quản lý tại Việt Nam

- Ban lãnh đạo Viện đã đặt những mục tiêu phát triển như thế nào cho IPAM trong tương lai thưa GS. ?

Bản thân sự ra đời của IPAM đã là thành tựu, là sản phẩm đầu ra tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác giữa Trường ĐHKHXH&NV và Quỹ Rosa Luxemburg. Đó là sự kết tinh của những giá trị khoa học và nhân văn; nỗ lực vì mục tiêu phát triển các ngành khoa học của khoa học chính sách; mở rộng diễn đàn trao đổi học thuật quốc tế về chính sách và phát triển, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác Việt Nam – Cộng hòa Liên bang Đức.

IPAM mong muốn tiếp tục mối quan hệ hợp tác bền vững với Quỹ Rosa Luxemburg theo hướng mở rộng sự hiểu biết và kỹ năng phân tích chính sách trong các nhóm xã hội khác nhau ở Việt Nam. Trong giai đoạn sắp tới, IPAM mong muốn thông qua sự hỗ trợ của các đối tác trong nước và quốc tế, trước hết là Rosa Luxemburg để tiếp tục mở rộng hoạt động truyền bá kiến thức và kỹ năng cho các đối tượng là các cán bộ làm chính sách trong các cơ quan công quyền, thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội và các giảng viên trẻ.

Chúng tôi mong muốn xây dựng IPAM thành đơn vị nghiên cứu xuất sắc hàng đầu Việt Nam về chính sách và quản lý. IPAM sẽ đẩy mạnh các công bố quốc tế, các hợp tác ở tầm quốc tế để đem đến tiếng nói của giới khoa học Việt Nam trên các diễn đàn thế giới trong lĩnh vực chính sách. Trong một tầm nhìn dài hạn, chúng tôi kỳ vọng IPAM sẽ phát triển thành một institute/centrer/school hàng đầu về khoa học chính sách, có vị thế và uy tín như trường Chính sách công Lý Quang Diệu của Đại học Quốc gia Singapore...

Một số ấn bản phẩm của IPAM. IPAM đã xây dựng được hệ thống tài liệu, giáo trình, sách tham khảo làm nền tảng cho việc hình thành hướng nghiên cứu về khoa học chính sách và quản lý tại Trường ĐHKHXH&NV

- Nhân dịp kỷ niệm 15 năm hợp tác giữa Trường ĐHKHXH&NV mà cụ thể là IPAM với Quỹ Rosa Luxemburg, GS có thể chia sẻ cảm nghĩ của mình ?

Tôi xin chia sẻ niềm vui và sự biết ơn đến đối tác truyền thống là Quỹ Rosa Luxemburg cùng các nhà khoa học của Cộng hòa Liên bang Đức vì những sự hỗ trợ nhiệt thành, chân tình và hiệu quả cho IPAM và Trường ĐHKHXH&NV trong 15 năm qua. Chính tinh thần khoa học bền bỉ và sự tâm huyết muốn tạo ra những thay đổi giá trị cho thực tiễn hoạt động chính sách tại Việt Nam của các nhà khoa học cả hai bên đã mang lại những thành tựu hết sức to lớn mà sự hiện diện của IPAM là một minh chứng rõ nét nhất.

Tôi cũng chân thành cảm kích những đóng góp của các nhà khoa học đi trước như PGS.TS Vũ Cao Đàm - nhà khoa học đã có công gây dựng những hoạt động đầu tiên của dự án hợp tác và đào tạo nên những cán bộ kế cận xuất sắc, đủ sức tiếp tục và phát triển thành quả của thế hệ đi trước lên một tầm cao mới. Có được những thành công của IPAM còn là nhờ đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực và niềm đam mê khoa học, luôn năng động và cống hiến hết sức mình cho những mục tiêu chung của Viện. Ngoài ra, sự chỉ đạo, tạo điều kiện của lãnh đạo Nhà trường và sự hợp tác hỗ trợ của các đối tác ngoài trường nhất là các đơn vị thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ đã giúp chúng tôi ngày càng phát triển các hoạt động nghiên cứu và đào tạo của mình, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

- Xin cảm ơn GS.

Hình ảnh Nguyễn Duy Cường trên trang page của "Thần tượng Bolero 2018"

- Xin chào Duy Cường, trước tiên anh hãy giới thiệu đôi nét về bản thân mình và cơ duyên bạn gắn bó với Trường ĐHKHXH&NV ?

Tôi là Nguyễn Duy Cường, sinh ra tại Nghệ An. Ngay từ lúc còn là một cậu học sinh cấp 3, tôi đã từng ước mơ trở thành một sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn giàu truyền truyền thống. Trải qua kỳ thi đại học, tôi đã trở thành sinh viên khóa K54 Khoa Triết học.

Tôi thấy mình rất may mắn vì trong quá trình học tập tại trường đã được các thầy/cô giáo và các nhà khoa học tâm huyết như thầy Đỗ Văn Khang, thầy Nguyễn Anh Tuấn, cô Đỗ Thị Minh Thảo, cô Nguyễn Thúy Vân, thầy Giang, cô Hạnh… hướng dẫn và giảng dạy. Cùng với hành trang đã tích lũy được tại trường, ngay sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã thi tuyển vào làm nghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học  Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và tháng 5/2017 dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Huyên và TS. Lương Thu Hiền.

Được trở thành giảng viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thực sự là niềm vui và là niềm hạnh phúc lớn đối với tôi bởi đây là nơi có nhiều điều kiện thuận lợn để tôi hoạt động nghiên cứu với định hướng phát triển khoa học liên ngành - một hướng đi mới và tiên phong trong nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội hiện nay.

Mặt khác, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn không chỉ là cơ sở đào tạo có uy tín nhất cả nước về khoa học xã hội mà nơi đây còn có nhiều hoạt động văn hóa - xã hội, đặc biệt là các hoạt động văn hóa nghệ thuật phát triển rất mạnh mẽ để các bạn trẻ có thể thỏa sức thể hiện khả năng và niềm đam mê của mình. Và cũng xin bật mí với bạn, khi là sinh viên, tôi cũng là một người rất hăng hái tham gia các hoạt động của trường và cũng là một thành viên của CLB Sol đấy (cười).

- Anh đã đến với cuộc thi “Thần tượng Bolero 2018” như thế nào ?

Hiện nay, tôi đang tham gia chương trình Thần tượng Bolero mùa thứ 3. Như đã chia sẻ với một số báo chí, tôi đến với cuộc thi năm nay như một nhân duyên. Mặc dù rất quan tâm và theo dõi thường xuyên hai mùa giải trước, tuy nhiên, do phải tập trung vào công việc học tập và giảng dạy nên tôi chưa thể sắp xếp thời gian tham gia mặc dù rất muốn. Thật may, ngay sau khi tôi bảo vệ xong luận án tiến sĩ thì thấy thông báo tuyển thí sinh Thần tượng Bolero mùa thứ 3 của Ban Văn nghệ, Đài truyền hình Việt Nam, tôi đã quyết tâm đăng ký tham gia. Và thật may mắn, tôi đã vượt qua được 3 vòng Casting vô cùng căng thẳng của chương trình và lọt vào vòng “Tinh hoa”. Chúng tôi vừa có buổi ghi hình đầu tiên của vòng “Tinh hoa” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 8 và 9/1 vừa qua.

- Anh có th chia s thêm v các hun luyn viên và nhng tri nghim ca mình khi tham gia chương trình?

Nếu ai đã từng nghe và thích dòng nhạc Bolero sẽ đều biết đến 3 tên tuổi của dàn Huấn luyện viên năm nay: Ngọc Sơn, Như Quỳnh, Quang Lê. Đây là những người có trình độ âm nhạc và có kinh nghiệm lâu năm trong việc trình diễn những ca khúc Bolero ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Thực sự, tôi chỉ là người ngoại đạo, đây là lần đầu tiên tham gia một cuộc thi ca hát và cũng là lần đầu tiên được đứng  trên một sân khấu lớn chuyên nghiệp như vậy. Cảm giác đầu tiên là choáng ngợp, lo lắng nhưng qua sự tập luyện và hướng dẫn của BTC, cảm giác lo lắng cũng dần bớt đi. Tôi  hy vọng mình sẽ đem đến những phần trình diễn tôt nhất cho chương trình Thần tượng Bolero năm nay.

Anh được đánh giá là thí sinh tiềm năng của cuộc thi năm nay. Anh chia sẻ sẽ mang đến hình ảnh một trí thức trẻ của Trường ĐHKHXH&NV, vừa giỏi chuyên môn, vừa tài năng và tự tin trong các hoạt động xã hội.

 

- Anh có th chia s thêm về tình yêu vi âm nhc và đặc bit là cm nhn về dòng nhc Bolero?

Từ nhỏ tôi đã yêu âm nhạc, đặc biệt là dòng nhạc Bolero. Chắc cũng bởi mình được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu âm nhạc. Bố mẹ của mình đều hát rất hay đấy (cười) và thường mở những bài hát Bolero hằng ngày nên từ đó Bolero đã len lỏi vào tâm hồn mình, trở thành một người bạn tri kỷ. Và chắc cũng bởi, mình sinh ra trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn: bố mình bị tai nạn giao thông từ lúc mình học lớp 1, từ nhỏ mình đã phải phụ giúp mẹ chăm sóc bố ở bệnh viện suốt 5 năm ròng rã. Đó là một tuổi thơ vô cùng vất nên có lẽ mình đã gửi gắm và trút tâm sự của mình vào những bài hát Bolero ngọt ngào, sâu lắng đậm tình yêu thương.

Với dòng nhạc Bolero, có rất nhiều ý kiến trái chiều, đặc biệt là khi Bolero đang nở rộ trong các bữa tiệc âm nhạc ở Việt Nam trong mấy năm gần đây. Có người cho rằng, “mọi người say đắm vào Bolero là sự thụt lùi của âm nhạc”. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng, Bolero là một sản phẩm văn hóa. Vì vậy, chúng ta cần phải có sự bình đẳng trong văn hoá. Đừng nói văn hóa nào thấp, văn hóa nào cao, miễn nó phục vụ tốt đời sống của con người. Và đương nhiên, mọi nghệ thuật đều hướng đến cái đẹp, mà mọi cái đẹp đều để phục vụ cuộc sống. Nhà Triết học, Mỹ học Cantơ đã nói: “Thị hiếu (sở thích) là không thể bàn cãi được”. Có người thích hội họa, văn học, người thích điện ảnh, âm nhạc. Và tương tự, sẽ có người thích pop ballad, thích rock, dân ca, thính phòng và đương nhiên sẽ có những người thích Bolero. Vấn đề của chúng ta là cần phải tìm ra những giá trị và đặc biệt là những giá trị thẩm mỹ của các tác phẩm Bolero.

Nhạc Bolero khi du nhập vào Việt Nam từ thập niên 60 ở miền Nam. Tuy rằng, tiết tấu, nhịp điệu… của dòng nhạc này là nhập ngoại nhưng khi về Việt Nam đã được Việt hóa và gắn với những dòng dân ca của Nam Bộ nên rất gần gũi với người dân Việt Nam. Thời đó, nhiều nhạc sĩ đã viết nên những ca khúc Bolero nổi tiếng như  Đập vỡ cây đàn, Cho vừa lòng em, Nhẫn cỏ cho em… Những bài hát đó ra đời từ rất lâu như vậy nhưng vẫn được mọi người yêu mến. Từ tiệc vui cho đến tiệc buồn, từ người sang trọng đến người bình dân, họ vẫn hát và vẫn yêu bởi nó rất gần gũi để con người có thể gửi gắm vào đó những nỗi lòng của mình.

Nguyễn Duy Cường và huấn luyện viên - Ca sĩ Ngọc Sơn

Nguyễn Duy Cường được mẹ nuôi (bên trái) và mẹ ruột (phải) ủng hộ tại cuộc thi

- Khi tham gia chương trình này, anh có những thuận lợi gì? K vng ca anh khi tham gia chương trình này?

Thuận lợi lớn nhất của tôi là được GS.TS Phạm Quang Minh - Hiệu trưởng Nhà trường, PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng khoa Triết học và rất nhiều những thầy cô, đồng nghiệp và sinh viên ủng hộ, động viên để tôi có thể cố gắng hết mình tham gia cuộc thi.

Thực sự, khi quyết định tham gia chương trình này, một số người đã tỏ ra nghi ngờ vì họ quan niệm: “giảng dạy và nghiên cứu một môn học khô cứng như vậy thì sao lại có thể hát được Bolero”. Vì vậy, tôi muốn khẳng định rằng, những giảng viên nói chung và giảng viên Triết học nói riêng, họ cũng có tâm hồn nghệ sĩ và họ cũng mong muốn được thực hiện niềm đam mê của bản thân khi có cơ hội. Và hy vọng, khi chương trình được phát sóng, tôi sẽ nhận được sự ủng hộ và đón nhận của tất cả mọi người.

- Là mt ging viên trường đại hc, anh mun xây dựng hình nh như thế nào trong mt công chúng và xã hội khi tham gia chương trình này?

Khi tham gia chương trình “Thần tượng Bolero 2018”, tôi muốn xây dựng hình ảnh của những giảng viên trẻ tuổi của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN: những người trẻ  không chỉ làm giảng dạy và nghiên cứu tốt mà còn là những người có khả năng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Cuộc sống này chỉ có một lần và vì thế, hãy sống hết mình vì đam mê để mai này không có gì phải hối tiếc.

- Cm ơn anh vì cuc trò chuyn.

https://saostar.vn/doi-song/hoan-canh-gia-dinh-nguoi-biet-ve-tien-si-tre-tuoi-nhat-viet-nam-tai-tuong-bolero-2018-2024273.html

http://www.nguoitieudung.com.vn/tien-si-triet-hoc-nguyen-duy-cuong--giu-vung-niem-dam-me-voi-bolero-d64846.html

Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN bắt đầu hợp tác với Quỹ Rosa Luxembburg (CHLB Đức)  từ năm 2002. Dự án đầu tiên giữa hai bên tập trung vào nghiên cứu chính sách, nằm trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu về xã hội học và chính sách khoa học và công nghệ (sau này là chương trình nghiên cứu đánh giá xã hội về môi trường phát triển của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN). Đây là dự án dài hạn, với mục tiêu là nghiên cứu những cơ sở, điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa của quá trình hoạch định chính sách, nhất là trong lĩnh vực khoa học công nghệ và giáo dục.

Trải qua 15 năm phát triển, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố tại Việt Nam và quốc tế. Bên cạnh đó còn có các khóa tập huấn, tọa đàm, hội thảo khoa học về chính sách; chương trình hoạch định chính sách; các nghiên cứu thực tiễn về sự tác động, ảnh hưởng của chính sách với sự phát triển của các quốc gia, địa phương, tổ chức, vấn đề xã hội. Những hoạt động này mang lại nhiều hiệu quả to lớn với công tác nghiên cứu và đào tạo chính sách quản lý tại nhiều địa phương và tỉnh thành.

GS.TS Nguyễn Văn Kim (Phó Hiệu trưởng Nhà trường) phát biểu khai mạc buổi lễ

Song song với các hoạt động trên, Quỹ Rosa Luxemburg đã phối hợp với Trường ĐHKHXH&NV triển khai một số hướng nghiên cứu mới: lựa chọn lý luận cánh tả trong xu hướng biến đổi; dự án đổi mới chính sách giáo dục tại Việt Nam, v.v…Các dự án đã được triển khai và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Với sự tài trợ của Quỹ Rosa Luxemburg, nhiều kết quả đã được áp dụng vào thực tiễn. Trước hết là hoạt động xây dựng và phát triển các môn học, ngành đào tạo tại Trường ĐHKHXH&NV: tuyển sinh cả hai bậc ngành Chính sách công bắt đầu từ năm 2018; xây dựng các hướng nghiên cứu mới, góp phần nâng cao uy tín của Nhà trường, thông qua việc chuyển giao kết quả các nghiên cứu; xuất bản các giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo, các tài liệu nghiên cứu chính sách.

Dự án cũng đã triển khai một mạng lưới nghiên cứu chinh sách, phối hợp với nhiều cơ quan, ban ngành trung ương và địa phương tại Việt Nam (tổ chức 45 khóa tập huấn về kỹ năng nghiên cứu và phân tích chính sách, trong đó có nhiều lớp dành cho các thành viên thuộc Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ...).

Phát biểu khai mạc buổi lễ, GS.TS Nguyễn Văn Kim (Phó Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV) gửi những lời cám ơn chân thành tới Quỹ Rosa Luxemburg vì sự quan tâm, hỗ trợ hết sức hiệu quả mà Quỹ đã dành cho Nhà trường. 

GS.TS Nguyễn Văn Kim tặng hoa tri ân bà Liliane Danso-Dahmen (Giám đốc Quỹ Rosa Luxemburg khu vực Đông Nam Á) 

Thay mặt cho Ban Giám hiệu Nhà trường, GS.TS Nguyễn Văn Kim ghi nhận những đóng góp quan trọng của PGS.TS Vũ Cao Đàm, GS.NGND Nguyễn Văn Khánh cùng nhiều cá nhân, nhà khoa học trong và ngoài nước. Cho tới hôm nay, họ đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của Viện Chính sách và Quản lý cũng như quan hệ hợp tác giữa Viện với Quỹ. Phó Hiệu trưởng hy vọng, mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển sâu rộng hơn nữa trong tương lai, góp phần vào sự phát triển của nghiên cứu chính sách tại Việt Nam.

Tọa đàm khoa học quốc tế  “15 năm hợp tác giữa Trường ĐHKHXH&NV với Quỹ Rosa Luxemburg khu vực Đông Nam Á – Lý thuyết và khung chính sách từ quan điểm cánh tả” tập trung vào các nội dung chính: đánh giá tác động của sự hợp tác giữa Viện Chính sách và Quản lý-Rosa Luxemburg khu vực Đông Nam Á tới hoạt động nghiên cứu, đào tạo chính sách tại Việt Nam; lý thuyết cánh tả và một số vấn đề nghiên cứu về chính sách và nghiên cứu khoa học giáo dục của Việt Nam hiện nay; quá trình phát triển của ngành khoa học chính sách tại Việt Nam và các hướng nghiên cứu ưu tiên trong bối cảnh hội nhập của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Tọa đàm là cơ hội nhìn lại những thành tựu và kết quả của 15 năm hợp tác giữa Trường ĐHKXH&NV với Quỹ Rosa Luxemburg, cũng như thảo luận các hướng nghiên cứu tiếp theo giữa hai bên trong thời gian sắp tới.

Thời gian

Nội dung

Thành phần

Địa điểm

Chuẩn bị

Thứ 2

15/1

 

 

 

 

 

Hiệu trưởng đi công tác

 

Iran

 

8h00

PHTr N.V.Kim dự Lễ kỷ niệm 15 năm hợp tác giữa trường ĐHKHXH&VN và RLS SEA (2002-2017) (cả ngày)

Theo giấy mời

P. 304 nhà E

Viện chính sách

10h00

PHTr H.A.Tuấn tiếp đại diện Đại học Aix- Marseille (Pháp)

Đại diện LĐ Phòng HT-PT

P. 203 nhà Điều hành

Phòng HT-PT

14h00

PHTr H.A.Tuấn họp với nhóm xây dựng chương trình cử nhân quốc tế Việt Nam học

Các thành viên biên soạn

P. 506 nhà E

Phòng ĐT

Thứ 3

16/1

 

 

 

 

8h00

Bí thư Đảng ủy dự Hội nghị Tổng kết năm 2017 ĐHQGHN

Đảng ủy, BGH, Chủ tịch HĐ Khoa học đào tạo, chủ tịch Công đoàn, Bí thư ĐTN, kế toán trưởng, trưởng các phòng, ban chủ nhiệm các khoa

HT Nguyễn Văn Đạo

Phòng HC-TH

8h00

PHTr T.T.M.Hòa dự Bảo vệ LVCH (Cả ngày)

 

Khoa DLH

 

8h30

PHTr H.A.Tuấn dự bảo vệ LATS ngành Lịch sử

 

P. 302 nhà E

 

9h00

PHTr H.A.Tuấn dự Lễ trao tài trợ của Công ty cổ phần Bất động sản Tân Kiến

Theo giấy mời

P. 506 nhà E

Khoa KHQL, Khoa TH

13h30

PHTr H.A.Tuấn dự Hội thảo mở mới các chương trình đào tạo liên ngành cử nhân Kinh tế và Quản lý; thạc sỹ Kinh tế dịch vụ du lịch

Đại diện LĐ: Khoa DLH, Khoa KHQL, Phòng ĐT, Phòng TCCB , Phòng KHTC; Đại biểu theo giấy mời

P. 801 nhà E4, ĐH Kinh tế

Phòng HC-TH

14h00

Bí thư Đảng ủy kiểm tra công tác Đảng

Ban Kiểm tra Đảng ủy

Chi bộ Khoa BC&TT

 

14h00

Hiệu trưởng tiếp sinh viên Lào

Đại diện LĐ Phòng HT-PT

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

15h00

Đại diện BGH tiếp GS. Park Jung Chan (Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc)

Trưởng các Khoa: ĐPH, VH, VNH&TV; BM Hán Nôm; đại diện LĐ: TTNC Trung Quốc, Phòng HT-PT, phòng QLNCKH.

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

16h30

Bí thư Đảng ủy họp Ban Tổ chức Đảng ủy

Ủy viên BTC Đảng ủy

P. 202 nhà E

VP Đảng ủy

18h00

Hiệu trưởng lên lớp

 

HV Ngoại giao

 

Thứ 4

17/1

 

 

 

 

8h00

PHTr H.A.Tuấn tiếp đoàn cán bộ và sinh viên New Zealand thực tập tại nhà trường

 

P. 304 nhà E

Phòng HT-PT

8h30

Bí thư Đảng ủy kiểm tra công tác Đảng

Ban Kiểm tra Đảng ủy

Chi bộ khoa Ngôn ngữ học

 

10h00

Hiệu trưởng làm việc với GS Kwon Seung-ho (Quỹ KOSASA)

Đại diện lãnh đạo Phòng HT-PT

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

10h00

PHTr N.V.Kim làm việc ở BM Lịch sử thế giới

 

Tầng 2 nhà B

 

14h00

Bí thư Đảng ủy kiểm tra công tác Đảng

Ban Kiểm tra Đảng ủy

Chị bộ Khoa VNH&TV

 

14h00

PHTr T.T.M.Hòa dự HĐ bảo vệ Luận án tiến sỹ

 

ĐH Thương Mại

 

14h30

Hiệu trưởng, PHTr H.A.Tuấn tiếp đoàn lãnh đạo Trường Đại học Aix- Marseille (Pháp)

Đại diện LĐ các khoa: LTH&QTVP, TLH, XHH, VH, LS; đại diện LĐ các Phòng: HT-PT, ĐT, QLNCKH; PGS.TS. Phan Hải Linh (Khoa ĐPH);

P. 506 nhà E

Phòng HT-PT

15h00

Hiệu trưởng tiếp Ngài Denis Brunetti, Tổng giám đốc Ericson Việt Nam

PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh (Khoa XHH); đại diện VP Chương trình NC Internet & XH; LĐ Phòng HT-PT

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

16h00

Hiệu trưởng làm việc với VP Chương trình NC Internet & XH

PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh (Khoa XHH); đại diện VPIS

P. 505 nhà E

VP VPIS

Thứ 5

18/1

 

 

 

 

 

PHTr T.T.M.Hòa đi công tác

(đến hết ngày 20/1)

 

Thái Lan

Phòng HC-TH

8h00

PHTr H.A.Tuấn chỉ đạo thi tốt nghiệp lớp CTXH hệ VLVH tại Hòa Bình

 

 

Phòng ĐT

8h30

Hiệu trưởng dự Hội thảo quốc tế “Hai thập kỷ luận bàn về toàn cầu hóa KHXH - khái niệm, chiến lược và thành tựu”

Theo giấy mời

P. 506 nhà E

Phòng QLNCKH

8h30

PHTr H.A.Tuấn dự bảo vệ LATS ngành Văn học

 

P. 302 nhà E

 

9h30

Đại diện BGH họp tại Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước

 

P. 407 Trụ sở Bộ KHCN, 113 Trần Duy Hưng

Phòng HC-TH

12h30

PHTr N.V.Kim đi công tác

 

Mỹ

 

18h00

Hiệu trưởng dự chiêu đãi khách tham dự HTQT “Hai thập kỷ toàn cầu hóa KHXH”

Theo giấy mời

Nhà hàng Chợ Quê, 1 ngõ 163, Hoàng Ngân

Phòng HT-PT

Thứ 6

19/1

 

 

 

 

8h00

Đại diện BGH dự Hội nghị chuyên đề HT-PT năm 2017 (cả ngày)

PGS.TS. Trần Viết Nghĩa (Phòng HT-PT)

Nhà công vụ số 1, Hòa Lạc

Phòng HC-TH

11h30

Đại diện BGH dự sinh hoạt số 26 của “Lunch Box Club for English” (LBCE)

Theo đăng ký

P. 201 nhà E

Phòng TCCB

8h30

PHTr H.A.Tuấn dự bảo vệ luận án tiến sĩ ngành Quốc tế học

 

P. 302 nhà E

 

14h00

PHTr H.A.Tuấn tiếp Viện trưởng Viện Giáo dục Quốc tế, Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh

Đại diện LĐ Khoa NNH, khoa ĐPH, Phòng HT-PT, Phòng ĐT 

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

Thứ 7

20/1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CN

21/1

 

 

 

 

8h00

PHTr H.A.Tuấn dự diễn đàn của Hội Quản lý Đào tạo Hà Nội

ThS. Hoàng Văn Quynh, ThS. Nguyễn Văn Hồng

Ninh Bình

Phòng ĐT

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Đào Tuấn Anh

2. Giới tính: Nam

3. Ngày sinh: 01/01/1992

4. Nơi sinh: Bắc Ninh

5. Quyết định công nhận học viên số: 2415/2015/QĐ-XHNV ngày 13 tháng 10 năm  2017 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không có

7. Tên đề tài luận văn: Những điểm mới về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII (2016)

8. Chuyên ngành: Việt Nam học            Mã số:  60.22.01.13

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Quang Minh

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

Kế thừa đường lối đối ngoại của 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã có sự bổ sung và phát triển nhiều điểm mới, đánh dấu bước ngoặt thay đổi về chất trong đường lối đối ngoại của Đảng ta. Về nhận thức thời đại và bối cảnh quốc tế. Lần đầu tiên, Đảng ta Đảng ta đã gắn nhận định về tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn của thời đại để xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại trong những năm tới; Về nhiệm vụ của đối ngoại Đảng ta đã xác định trong văn kiện Đại hội XII: Lần đầu tiên nhiệm vụ đối ngoại được nêu như một thành tố của chủ đề Đại hội..

Về mục tiêu đối ngoại được đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất, phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại và quan điểm chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được nêu cụ thể hơn, công tác đối ngoại đa phương được nhấn mạnh; công tác đối ngoại nhân dân được tiếp cận theo phương cách mới.

Về nguyên tắc hoạt động đối ngoại, trong văn kiện Đại hội XII nêu cụ thể nguyên tắc giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an sinh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất; phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc; chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh... tạo đồng thuận trong nước, quốc tế và khu vực để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước.

11. Khả năng ứng dụng trong  thực tiễn:

Từ việc phân tích, làm sáng tỏ những điểm mới và sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam trong các văn kiện tại Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ XII, luận văn nhằm mục đích nhận xét những kết quả, thành tựu đạt được và đánh giá triển vọng, thách thức của việc thực hiện chính sách đối ngoại trong thời gian tới.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

Liên quan đến đề tài, có một số, bài viết của các nhà hoạt động ngoại giao, các nhà khoa học trong nước. Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu về những điểm mới về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản lần thứ XII. Vì vậy, Đây sẽ còn là vấn đề mới mẻ và hứa hẹn những kết quả nghiên cứu thú vị, có hàm lượng khoa học chuyên sâu.

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Dao Tuan Anh                           2. Sex: Male

3. Date of birth: 01/01/1992                           4. Place of  birth: Bac Ninh provice

5. Admission decision number: 2415/2015/QĐ-XHNV Dated 13/10/2017 by the President of the University of Social Sciences and Humanities, Ha Noi National University

6. Changes in academic process

7. Official thesis title: New features of Vietnam's foreign policy in the documents of the XIIth Communist Party Congress (2016).

8. Major: Vietnamese Studies                        Code: 60.22.01.13

9. Supervisors: Prof. Pham Quang Minh

10. Summary of the findings of the thesis:

Inheriting the foreign policy of 30 years of renewal, the 12th Party Congress has supplemented and developed many new points, marking a turning point in the way of the Party's foreign policy.  On the perception of the times and the international context.  For the first time, our Party has attached the world, regional and practical situation of the time to determine its objectives, requirements and tasks in the coming years.  On the task of the Party's external relations, we have identified in the documents of the 12th Congress: For the first time, the foreign affairs task was mentioned as a component of the Congress theme. 

With regard to the foreign policy objectives mentioned more clearly and at the highest level, the motto of directing foreign affairs and the viewpoint to direct the implementation of the task of defending the Fatherland are specified in more detail,  emphasis is placed;  People's external relations are approached in a new way.

 In principle of external activities, in the documents of the 12th National Assembly, the principle of resolving outstanding issues on the basis of international law and the principle of conduct of the region.

The XIIth Congress of the Party continues to promote and deepen relations with partners, especially strategic partners and major countries that play an important role in the country's development and welfare, molding  the relationship established in essence;  Promote role in multilateral mechanisms, especially ASEAN and UN;  To actively and actively participate in multilateral defense and security mechanisms... Create national, international and regional consensus to meet the requirements of building and protecting the country.

11. Practical applicability, if any:

From the analysis, clarification of the new points and the adjustment of Vietnam's foreign policy in documents at the XIIth Communist Party Congress, the thesis aims to comment on the achievements and achievements.  and evaluate the prospects and challenges of implementing foreign policy in the coming time.

12. Further research directions, if any:

Related to the subject, there are some, writings of diplomats, scientists in the country.  However, there is no scientific research on the new features of Vietnam's foreign policy in the documents of the Communist Party Congress XII.  So, this will be a new issue and promising interesting research results, with deep scientific content.

13. Thesis-related publications:

Đại sứ quán Ireland chào đón Mick Moloney, một trong những nhạc công và nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng nhất Ireland, trở lại Việt Nam với một buổi biểu diễn đặc sắc âm nhạc và các điệu nhảy Ireland, cùng với các nhạc công tài năng (Brenda Castles, Christina Dolphin, Dylan Foley, Dan Gurney) và một trong những vũ công lớn nhất của Ireland (Niall O'Leary), cựu quán quân Ireland và vô địch thế giới.

+ Thời gian: 19:00 thứ Sáu 26/01/2018

+ Địa điểm: Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (336 Nguyễn Trãi, Hà Nội)

Để nhận vé tham gia sự kiện, vui lòng đăng ký số lượng vé (qua email embevents@dfanet.ie) trước 12:00 trưa ngày 18/1/2018.

Do số lượng vé có hạn, Đại sứ quán Ireland sẽ ưu tiên theo thứ tự đăng ký. Đại sứ quán Ireland sẽ xác nhận số lượng vé qua email, và vé có thể nhận vào này 21/1/2018, tại Đại sứ quán Ireland, Tầng 2, Sentinel Place, 41A Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tham dự buổi gặp mặt còn có TS. Ngô Thị Kiều Oanh (Chủ tịch Công Đoàn trường), TS. Phạm Huy Cường (Phó Trưởng phòng Chính trị và Công tác sinh viên), ThS. Nguyễn Thị Mai Lan (Chánh Văn phòng Đảng ủy), TS Trần Bách Hiếu (Bí thư Đoàn Thanh niên trường).

GS.TS Nguyễn Văn Kim, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường (trái) tặng hoa chúc mừng Hội Sinh viên Nhà trường (2017-01-09 hoi sinh vien)

GS.TS Nguyễn Văn Kim đánh giá cao những thành tích mà Hội Sinh viên Nhà trường đã đạt được: Hội Sinh viên Nhà trường đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Hội Sinh viên đã xây dựng nhiều chương trình hoạt động hiệu quả và có bản sắc riêng để định hướng và hỗ trợ các thế hệ sinh viên Nhà trường học tập, rèn luyện trên nhiều lĩnh vực, xứng đáng với vai trò là những trí thức trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước. GS.TS Nguyễn Văn Kim cũng đề nghị trong thời gian tới, Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên trường cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên, công tác hỗ trợ sinh viên, để thể hiện rõ hơn vị thế và vai trò của một tổ chức Hội sinh viên trong một trường đại học hàng đầu của Việt Nam.  

TS. Trần Bách Hiếu, Bí thư Đoàn thanh niên Trường (trái) tặng hoa chúc mừng Hội sinh viên Trường (2018-01-09 hoi sinh vien)

Nhân dịp này, đại diện Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Nhà trường, Bí thư Đoàn Thanh niên trường - TS. Trần Bách Hiếu cũng gửi lời chúc mừng những thành tích của Hội Sinh viên Nhà trường đã đạt được trong những năm qua và bày tỏ mong muốn Hội Sinh viên sẽ luôn là lực lượng tiên phong trong việc thực hiện các phong trào hành động cách mạng của tổ chức Đoàn - Hội; góp phần xây dựng nên hình mẫu sinh viên Trường ĐHKHXH&NV nói riêng và hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại mới.

Thay mặt Hội Sinh viên Nhà trường, ThS. Trần Đức Hòa (Chủ tịch Hội Sinh viên Trường) đã gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu đối với các hoạt động của Hội Sinh viên trong thời gian qua. Trong thời gian tới, Hội Sinh viên sẽ nỗ lực hơn nữa để kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của Tuổi trẻ Nhà trường, đóng góp sức mình vào các chủ trương và chiến lược phát triển chung của Nhà trường theo định hướng của một đại học nghiên cứu, từng bước hội nhập quốc tế.

Nhiều năm qua, Hội Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là đơn vị xung kích, mũi nhọn, có thương hiệu nhất định trong phong trào chung của Hội Sinh viên ĐHQGHN và Hội Sinh viên Việt Nam. Hội cũng là nơi góp phần ươm mầm tri thức, khơi dậy hoài bão sáng tạo, sống và cống hiến với lý tưởng sống đẹp cho thế hệ trẻ Nhà trường.

GS.TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng Nhà trường trao học bổng Chung Soo cho từng sinh viên 

Quỹ học bổng Chung Soo của Hàn Quốc được thành lập từ năm 1962, do ngài Park Chong Hee khởi xướng nhằm mục đích nuôi dưỡng nguồn nhân tài nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội Hàn Quốc. Sau đó, Quỹ đã mở rộng hỗ trợ đến nhiều nước khác nhằm góp phần hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực của một số nước đang phát triển.

Từ năm 2007 đến nay, Quỹ đã chọn Trường ĐHKHXH&NV - một trung tâm đào tạo, NCKH chất lượng cao hàng đầu cả nước về các ngành KHXH&NV để trao học bổng. Những suất học bổng này đã trở thành nguồn động viên tinh thần và hỗ trợ vất chất cho các em sinh viên trong nỗ lực khắc phục khó khăn của cuộc sống để vươn lên học tốt.

GS.TS Phạm Quang Minh phát biểu chúc mừng 

Thay mặt lãnh đạo Nhà trường, GS.TS Phạm Quang Minh bày tỏ sự cảm ơn tới Quỹ Chung Soo đã chọn Trường ĐHKHXH&NV là đơn vị đầu tiên của Việt Nam để trao học bổng cho sinh viên Nhà trường nhằm động viên các em trong học tập và rèn luyện. Đến nay đã trải qua 11 năm, học bổng Chung Soo đã góp phần giúp hàng trăm sinh viên vượt qua khó khăn để thực hiện ước mơ của mình. Hiệu trưởng cũng đánh giá hoạt động này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh quan hệ hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc có những kết quả tốt đẹp.

Các thầy cô chụp ảnh với toàn thể các sinh viên nhận học bổng Chung Soo 

Thay mặt các sinh viên được nhận học bổng lần này, sinh viên Bùi Thị Niên (khóa QH-2014-X, Khoa Thông tin - Thư viện) đã phát biểu và gửi lời cảm ơn đến Quỹ học bổng Chung-Soo, các thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các bạn trẻ thực hiện đam mê và trang bị hành trang cần thiết trêng con đường lập thân, lập nghiệp.

Ngày 4/1/2018, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa tiếp TS. Jeong Jin Ho (Trưởng phòng Quan hệ Quốc tế, Trường ĐH Doowon, Hàn Quốc). Tại buổi gặp mặt, đại diện hai Trường đã bàn giao biên bản ký kết hợp tác về đào tạo.

Trường ĐH Doowon là một trường đại học có thế mạnh về khoa học công nghệ tại Hàn Quốc. Một số ngành đào tạo về du lịch, báo chí truyền thông, chăm sóc sực khỏe cộng đồng… của Trường ĐH Doowon cũng có uy tín lớn, là điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác với Trường ĐHKHXH&NV.  Mô hình đào tạo các ngành khá linh hoạt, sinh viên có thể tham gia hệ 2 năm, 3 năm… và luôn có cơ hội học lên các bậc cao hơn. Mục tiêu hàng đầu của ĐH Doowon là đào tạo nguồn nhân lực cho các hoạt động quản lý và sản xuất của các doanh nghiệp. Hiện nay, có khoảng 15 sinh viên Việt Nam đang theo học tại đây. Trường luôn tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các trường đại học uy tín để trao đổi sinh viên.

PGS.TS Trần Thị Minh Hòa trao đổi biên bản hợp tác với TS. Jeong Jin Ho

PGS.TS Trần Thị Minh Hòa thay mặt Nhà trường bày tỏ sự hoan nghênh mối quan hệ hợp tác giữa hai Trường. Trường ĐHKHXH&NV đã có truyền thống và uy tín trong công tác nghiên cứu, đào tạo lĩnh vực Hàn Quốc học, cũng như hợp tác với các đối tác Hàn Quốc. Các hoạt động hợp tác rất đa dạng, thường xuyên và đạt hiệu quả cao.

Tiếp đó, ngày 5/1/2018, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa tiếp đoàn lãnh đạo một số cơ quan truyền thông Hàn Quốc và làm việc về phát triển hợp tác trong lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ truyền hình. Cùng làm việc có ThS. Lương Ngọc Vinh (Phó Trưởng Phòng Hợp tác và Phát triển) và TS. Bùi Chí Trung (Phó Trưởng Khoa Báo chí và Truyền thông).

Phía đối tác Hàn Quốc gồm lãnh đạo công ty  Sky TV (thuộc Tập đoàn KT), Showtime Media Group, tập đoàn CNP Trust. Đây là các cơ quan sản xuất chương trình truyền hình, tổ chức sự kiện có kinh nghiệm tại Hàn Quốc. Hệ thống Sky TV hiện nay có khoảng 10 kênh truyền hình giải trí về phim truyện, thể thao, du lịch, thiếu nhi… Tập đoàn CNP Trust sẽ đầu tư tài chính cho các dự án, chương trình hợp tác. Mục đích của chuyến thăm và làm việc của các cơ quan này là mong muốn được thành lập một trung tâm đào tạo nghiệp vụ truyền hình tại Việt Nam. Các đối tác sẽ xây dựng nguồn nhân lực kết hợp giữa Việt Nam và Hàn Quốc để sản xuất các chương trình truyền hình, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về truyền hình và cùng giao lưu, trao đổi văn hóa. Bên cạnh việc gặp gỡ các Đài truyền hình, họ cũng tìm đến các trường đại học lớn tại Việt Nam để tìm hiểu và mong muốn nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và hợp tác trong hoạt động đào tạo.

PGS.TS Trần Thị Minh Hòa làm việc với đại diện công ty Sky TV, Showtime Media Group, tập đoàn CNP Trust

PGS.TS Trần Thị Minh Hòa giới thiệu chi tiết các nội dung có liên quan tới những mục tiêu được các đối tác chia sẻ. Khoa Báo chí và Truyền thông của Trường là một trong hai cơ sở đào tạo và nghiên cứu báo chí truyền thông lớn nhất cả nước, đào tạo cả ba bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Đây là đơn vị cấp Khoa duy nhất trong cả nước đào tạo cả hai ngành: Báo chí và Quan hệ công chúng. Khoa hiện có các chương trình đào tạo Thạc sĩ định hướng nghiên cứu, Thạc sĩ ứng dụng và Liên kết quốc tế và, cùng với rất nhiều các hoạt động hợp tác với các cơ quan báo chí truyền thông, các nhà báo, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của Khoa Báo chí và Truyền thông, Trung tâm Nghiệp vụ Báo chí Truyền thông được đầu tư hiện đại, đồng bộ, nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra đối với công tác nâng cao chất lượng trong đào tạo và thực hành tác nghiệp.

Buổi gặp gỡ đầu tiên này sẽ tạo tiền đề cho các cuộc gặp tiếp theo giữa các bên liên quan với những nội dung cụ thể trong thời gian tới.

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Vi Thị Phương                                

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 18/10/1991

4. Nơi sinh: Thái Nguyên

5. Quyết định công nhận học viên số: 2811/2016/QĐ-XHNV ngày 18/8/2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

7. Tên đề tài luận văn: “Vấn đề văn hóa dân tộc Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn (1939)”

8. Chuyên ngành: Báo chí học;                   Mã số: 60.32.01.01

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện – Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

Luận văn tập trung nghiên cứu và đưa ra một số kết quả cơ bản như sau:

Khẳng định những đóng góp đặc sắc, có ý nghĩa của Tao Đàn trong việc đăng tải các loại bài viết về văn học, văn nghệ, văn hóa... góp phần đáng kể vào việc xây dựng và phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ghi nhận hai mô hình tạp chí về văn hóa – văn nghệ mà Tao Đàn thực hiện như một sáng kiến: Tạp chí ra hàng tháng với các chuyên mục ổn định tổng hợp về sáng tác và nghiên cứu, phê bình, dịch thuật và Tạp chí đặc biệt chuyên đề kịp thời cập nhật về một tác giả ngay sau khi tác gia đó vừa qua đời trong năm.

Trong thời gian hoạt động chưa đầy một năm, với 13 số đều kỳ và 2 số đặc biệt. Tao Đàn đã nỗ lực thu hút bài vở theo sự phân bố về phần mục và số trang đã định. Thành công của Tao Đàn có thể nói là do thực hiện sát sao tôn chỉ đặt ra là phấn đấu xây dựng nền văn chương nghệ thuật mang dấu ấn đặc sắc của dân tộc. Tạp chí Tao Đàn không chỉ là nơi gặp gỡ của các trào lưu tư tưởng và các khuynh hướng nghệ thuật mà thật sự trở thành một diễn đàn mở rộng chấp nhận mọi chính kiến có thể khác nhau miễn là có chung lập trường giữ gìn và phát huy giá trị tinh thần nhân văn đặc sắc của dân tộc.

Trong công cuộc bảo vệ và phát huy các giá trị của bản sắc văn hóa Việt Nam, báo chí giữ một vai trò quan trọng. Báo chí vừa là công cụ truyền bá văn hóa, vừa là một sản phẩm, một thành tố của văn hóa. Báo chí đã tham gia tích cực trong việc lưu giữ, truyền bá và làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại. Qua hoạt động của mình, Tao Đàn không chỉ góp phần làm sống dậy những giá trị văn hóa, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc mà còn đồng thời lọc bỏ những yếu tố văn hóa không còn phù hợp. Tao Đàn là một ngả đường quan trọng để tiếp nhận những yếu tố văn hóa mới. Nền văn hóa dân tộc cần được gây dựng trên cơ sở bảo vệ, gìn giữ những cái đã có tốt đẹp, cái riêng và cần được bảo tồn. Tao Đàn gợi trong tâm trí người đọc không khí học thuật sôi nổi của những năm tháng trước, hội tụ được những cây bút tài năng và tâm huyết.

11. Khả năng ứng dụng trong  thực tiễn:

Trọn bộ tạp chí Tao Đàn 1939 - trọn bộ sưu tập này là trung thực với bản gốc lần đầu hiện diện trên đời sống báo chí đương thời.  Đây là văn bản cho phép sử dụng với độ tin cậy cao nhất. Điều này sẽ làm an lòng những ai muốn nghiên cứu một tạp chí hay một giai đoạn báo chí từ 1930 – 1945.  Nghiên cứu đề tài này một mặt cho phép ta nhận thức lại lịch sử, mặt khác soi chiếu vào hiện tại để thấy được con đường vận động, phát triển của văn hóa và báo chí. Nhận diện lại vai trò của tạp chí Tao Đàn là việc làm hữu ích, cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan quản lý báo chí hiểu sâu về vai trò, vị trí, thực trạng hoạt động của loại tạp chí này trong hiện tại. Từ đó có cách lãnh đạo, quản lý phù hợp và hiệu quả hơn. Đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giảng viên, sinh viên khi học tập, nghiên cứu và bạn đọc quan tâm tới lịch sử báo chí, văn chương, văn hóa nước ta trước Cách mạng.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

Hiện nay, các báo và tạp chí đã phát huy truyền thống bản sắc đậm đà dân tộc như: Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm; Tạp chí Văn hiến; Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật,….. Từ việc hiểu những đóng góp của Tao Đàn, người đọc sẽ có kiến thức đối sánh việc những tạp chí hiện nay sẽ kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ Tao Đàn ra sao để đưa dân tộc hội nhập vào nhân loại mà vẫn không mất đi bản sắc của mình? Đây sẽ còn là vấn đề mới mẻ và hứa hẹn những kết quả nghiên cứu thú vị, có hàm lượng khoa học chuyên sâu.

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:

Vi Thị Phương, Tạp chí về văn hóa, văn học nghệ thuật đầu tiên trong làng báo nước ta trước Cách mạng tháng Tám, Báo Người Hà Nội, Số 38, tháng 9 năm 2017.

TS. Trần Bá Dung - Vi Thị Phương, Báo chí gắn việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc Tây Bắc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình”, tháng 10 năm 2017.

Vi Thị Phương, Sử dụng báo chí vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam, nhìn từ góc độ tạp chí Tao Đàn (1939), Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, số 12/2, tháng 10 năm 2017.

Vi Thị Phương, Vấn đề văn hóa dân tộc Việt Nam trên tạp chí Tao Đàn (1939), Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 274, tháng 11 năm 2017.

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Vi Thi Phuong                          2. Sex: Female

3. Date of birth: Oct 18th, 1991                    4. Place of  birth: Thai Nguyen

5. Admission decision number: 2811/2016/QĐ-XHNV on August 18th, 2016 by the President of the University of Social Sciences and Humanities, Ha Noi National University

6. Changes in academic process: N/A                        

7. Official thesis title: The issue of Vietnamese national culture in Tao Dan (1939)

8. Major: Journalism                                      Code: 60.32.01.01

9. Supervisors: Assoc. Prof. Ph.D Nguyen Ngoc Thien - Editor-in-Chief of Vietnam Arts and Entertainment Magazine

10. Summary of the findings of the thesis:

The thesis focuses on researching and bringing some basic results as follows:

Confirming Tao Dan's unique and meaningful contributions to the publication of literature, art and culture. contributing significantly to the development and promotion of Vietnamese national culture in the period before the Revolution of August 1945. Recognized two models of the cultural-entertainment magazine that Tao Dan made as an initiative: The magazine publishes articles on monthly basis with articles on composition and research, criticism, translation, and periodical journal updates on an author immediately after the author has just died year.

In operation less than a year, with 13 regular and 2 special numbers. Tao Dan has attempted to attract articles according to the distribution of the section and page number. The success of Tao Dan can be said that due to strict implementation of the guideline is to strive to build the art literature bearing the distinctive mark of the nation. Tao Dan is not only a meeting place for ideas and artistic trends, but also an open forum that accepts all possible different opinions as long as there is a common preservation and Promoting the value of the human spirit of the nation.

In the protection and promotion of values ​​of Vietnamese cultural identity, the press plays an important role. Journalism is both a tool of cultural propaganda and a product, a component of culture. The media has actively participated in the preservation, propagation and enrichment of the cultural treasures of the nation and humanity. Through its activities, Tao Dan not only contributes to revive the cultural values, good cultural traditions of the nation but also at the same time filtering out cultural elements are no longer suitable. Tao Dan is an important way to take in new cultural elements. Ethnic culture should be built on the basis of protection, preservation of what is good, of the individual and should be preserved. Tao Dan has evolved in the minds of the reader the lively academic atmosphere of the previous years, converging talented writers and enthusiasts.

11. Practical applicability, if any:

The entire collection of Tao Dan 1939 - this collection is true to its original presence in the contemporary press. This is the text that allows for the highest reliability. This will relieve those who want to study a magazine or a period of journalism from 1930 to 1945.

Studying the subject, on the one hand, allows us to perceive history, on the other hand to screen the present to see the path of movement and development of culture and the press.  Recreating the role of Tao Dan magazine is a useful work, providing a database for the media management agencies to understand the role, location and status of the magazine. in. From there, leadership and management are more appropriate and effective. The topic will also be a useful reference for lecturers and students studying, researching and reading about our history, literature and culture before the Revolution.

12. Further research directions, if any:

At present, newspapers and magazines have promoted the traditions of national identity such as the Journal of Writers and Works; Literature Review; Vietnam Arts and Letters Magazine, Culture and Arts Magazine,… From the understanding of Tao Dan's contributions, readers will have the knowledge that the current magazines will inherit and promote. What is the national cultural identity from Tao Dan to integrate people into humanity without losing its identity? This will be a new and promising subject of interesting research results, with a deep scientific content.

13. Thesis-related publications:

Vi Thi Phuong, Journal of Culture, Literature and Art first in our newspaper before the August Revolution, Hanoi Newspaper, No. 38, September 2017.

TS. Tran Ba Dung - Vi Thi Phuong, The press attaches to the preservation of national cultural identity with the propaganda and mobilization of ethnic minority people to participate in voluntary social insurance, household health insurance, Proceedings of the scientific workshop "Propaganda and mobilization of Tay Bac ethnic minority people to participate in voluntary social insurance, household health insurance", October 2017.

Vi Thi Phuong, Using the press to build a new culture in Vietnam, viewed from the perspective of Tao Dan magazine (1939), Journal of Science and Technology, Thai Nguyen University, No. 12/2, October  2017.

Vi Thị Phuong, The Vietnamese Cultural Issue in Tao Dan (1939), Journal of Vietnamese Arts and Literature, No. 274, November 2017.