VIF 2017 là diễn đàn thường niên đầu tiên ở Việt được tổ chức với mục tiêu nhìn nhận và đánh giá sự đóng góp của Internet trong việc định hình nên một xã hội cởi mở, bền vững và sáng tạo, tập trung thảo luận các vấn đề liên quan đến khả năng tiếp cận Internet và các giải pháp kỹ thuật số cho tác động xã hội theo chủ đề #DigitalforGood.

Diễn đàn quy tụ những diễn giả và người tham dự từ các quan chức chính phủ, đại diện công dân, giới học thuật, lãnh đạo doanh nghiệp, các doanh nhân xã hội và các nhà đầu tư. Các sự kiện bên lề sẽ trưng bày nhiều đổi mới sáng tạo và giải pháp kỹ thuật số. Chủ đề thảo luận chính trong diễn đàn năm nay bao gồm từ cách tiếp cận Internet và dữ liệu mở thúc đẩy tính minh bạch và khả năng tiếp cận, đến sự phát triển bền vững của công nghệ số, cụ thể dự kiến như sau:

Phiên chính 1: Tiếp cận công nghệ số

Phiên thảo luận 1A: Sáng tạo công nghệ vì xã hội

Phiên thảo luận 1B: Nguồn dữ liệu mở

Phiên thảo luận 2A: Xác định các chỉ số phổ cập Internet

Phiên thảo luận 2B: Mạng xã hội

Phiên chính 2: Chính phủ điện tử - khả năng tiếp cận và tính minh bạch của thông tin

Phiên thảo luận 3A: Số hóa và góc nhìn của các thế hệ sau

Phiên thảo luận 3B: Thành phố thông minh

Nếu quan tâm đến diễn đàn về Internet & Xã hội lớn nhất trong năm tại Việt Nam, kính mời Quý đại biểu đăng ký tham dự sự kiện tại: https://www.vietnaminternetforum.com/#tickets

Đừng bỏ lỡ cơ hội đăng ký tham dự sự kiện về Internet và Xã hội lớn nhất trong năm tại Việt Nam: https://www.vietnaminternetforum.com/#ticketshttps://www.vietnaminternetforum.com/#tickets

Đừng bỏ lỡ cơ hội đăng ký tham dự sự kiện về Internet và Xã hội lớn nhất trong năm tại Việt Nam: https://www.vietnaminternetforum.com/#tickets

Mọi thông tin chi tiết của diễn đàn xin truy cập vào:  

Website: https://www.vietnaminternetforum.com/

Fanpage: https://www.facebook.com/VietnamInternetForum/

Tham dự hội thảo, (i) về phía các cơ quan hữu quan có ông Dương Ngọc Tấn (Phó Ban Tuyên giáo Chính phủ), TS. Lê Bá Trình (Nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), ông Nguyễn Văn Thanh (Trưởng Ban Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam); (ii) về phía Trường ĐHKHXH&NV có GS. TS Phạm Quang Minh (Hiệu trưởng Nhà trường), GS. TS Nguyễn Văn Kim (Phó Hiệu trưởng Nhà trường), GS. TS Đỗ Quang Hưng (Trưởng nhóm Nghiên cứu mạnh Tôn giáo & Pháp quyền), cùng đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý, các chức sắc tôn giáo, đại diện các cơ quan hữu quan, trung ương.

Quang cảnh hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, GS. TS Phạm Quang Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ đề hội thảo, đó là vai trò của tôn giáo với sự phát triển kinh tế cũng như quan hệ mật thiết giữa hai yếu tố này. Chủ đề này không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các học giả mà còn khơi dậy sự chú ý của các doanh nhân, chức sắc tôn giáo, cán bộ hoạch định chính sách. Hội thảo này cũng được tổ chức với góc nhìn của Cộng đồng ASEAN. Trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN mới ra đời gần 2 năm (tháng 12/2015-10/2017), ASEAN cần đảm bảo sự dung hòa giữa phát triển kinh tế và các lĩnh vực chính trị, xã hội, tôn giáo. GS. TS Phạm Quang Minh tin rằng, hội thảo sẽ đem lại những kinh nghiệm và bài học quý giá cho các nhà hoạch định chính sách ở ASEAN trong quá trình kiến thiết một cộng đồng chung.

Đồng quan điểm với GS. TS Phạm Quang Minh, GS Brett G. Scharffs (Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Luật pháp và Tôn giáo, Trường Luật ĐH Brigham Young) khẳng định một nền kinh tế lành mạnh, năng động có liên hệ chặt chẽ với sự ứng xử của một quốc gia với các vấn đề tôn giáo. Nếu có sự đàn áp hoặc phân biệt đối xử về tôn giáo, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đó sẽ bị tổn hại đáng kể. Ông cho biết, hiện nay có hai quan niệm phổ biến về tôn giáo: thứ nhất là coi tôn giáo như một vướng mắc cần được giải quyết và xử lý, thứ hai là như một cơ hội để đóng góp vào sự phát triển. Tuy thừa nhận sự tồn tại của cả hai quan niệm trên, ông đề cao những chính sách quốc gia theo hướng thứ hai. Đối với riêng ASEAN, đây là khu vực có sự đa dạng, phong phú về tôn giáo, trong đó có ba đại biểu lớn là Hồi giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Để gặt hái tiềm năng toàn diện của mình, cộng đồng ASEAN cần tạo ra sự hài hòa tôn giáo, tức là có sự đối xử tích cực, công bằng với tất cả các tôn giáo. Nhất là khi hiện nay vẫn còn có những xung đột tôn giáo trong mỗi nước và giữa các nước ASEAN.

GS Brett G. Scharffs phát biểu tại hội thảo

Thay mặt nhóm Nghiên cứu mạnh về Tôn giáo & Pháp quyền, GS. TS Đỗ Quang Hưng cho biết, ý tưởng tổ chức một hội thảo về tôn giáo và kinh tế tại Đông Nam Á đã hình thành từ lâu. Theo ông, hiện nay đã xuất hiện các thuật ngữ mới trong giới nghiên cứu như “vốn kinh tế-tôn giáo”, “kinh tế của tôn giáo” (economics of religion). Điều đó chứng tỏ tôn giáo có vai trò trong các hoạt động trên thương trường. Do đó, hội thảo lần này có mục tiêu đào sâu hơn về mối quan hệ giữa hai yếu tố này. Hội thảo còn có một sự đặc biệt nữa, đó là ngoài các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, còn có sự tham gia của các chức sắc tôn giáo như Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Đại Hiệp sĩ Thánh giá Lê Đức Thịnh. Đây là tiếng nói bổ sung vào cuộc trao đổi giữa hai phía kinh tế và tôn giáo.

GS. TS Đỗ Quang Hưng phát biểu tại hội thảo

Hội thảo sẽ diễn ra trong hai ngày 23/10-24/10/2017 với 6 tiểu ban.

Tiểu ban 1: Tôn giáo và kinh tế: Các hướng tiếp cận

Tiểu ban 2: Kinh tế Tôn giáo ở Đông Nam Á hiện nay

Tiểu ban 3: Nhà doanh nghiệp, nhà tôn giáo, nhà chính trị, giới nghiên cứu: Hài hòa xã hội tôn giáo trong phát triển Cộng đồng ASEAN

Tiểu ban 4: Tôn giáo và Luật pháp ở Đông Nam Á: Biến số phụ thuộc và biến số độc lập

Tiểu ban 5: Kinh tế Tôn giáo trong Khung cảnh Xã hội Chính trị Đông Nam Á

Tiểu ban 6: Tôn giáo, Kinh tế ở Đông Nam Á: Vấn đề và triển vọng

Buổi làm việc nhằm thảo luận về chương trình kỷ niệm 55 thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Algeria do Trường ĐHKHXH&NV, Đại sứ quán Algeria tại Việt Nam và Hội Hữu nghị Việt Nam-Algeria phối hợp tổ chức. Theo dự kiến, sự kiện sẽ diễn ra vào ngày 30/10/2017 với sự tham gia của đại diện một số cơ quan nhà nước Việt Nam; các cán bộ Đại sứ quán Algeria và một số đại sứ quán khác; cùng với 150 sinh viên của Trường ĐHKHXH&NV, trong đó có 50 sinh viên quốc tế. Sự kiện sẽ bao gồm 2 phần: (i) Chiếu phim điện ảnh “Bông sen” tại Hội trường tầng 8 nhà E; (ii) trưng bày ảnh về quan hệ hữu nghị Việt Nam-Algeria tại sảnh tầng 1 nhà E, Trường ĐHKHXH&NV. Các cơ quan báo chí, truyền thông quan tâm tới chủ đề này cũng sẽ đưa tin về sự kiện. GS.TS Phạm Quang Minh và Đại sứ Mohamed Berrah đã thống nhất sơ bộ về các vấn đề như khán phòng, thành phần tham dự, quy trình đón tiếp và công tác lễ tân.

Thay mặt Nhà trường, GS. TS Phạm Quang Minh gửi lời cảm ơn tới Đại sứ quán Algeria tại Việt Nam về ý tưởng tổ chức sự kiện. Hiệu trưởng cam kết, Nhà trường sẽ tạo điều kiện hết sức để đảm bảo thành công và lựa chọn những sinh viên ưu tú để tham gia vào chương trình. Hoạt động này không chỉ có ý nghĩa với quan hệ Việt Nam-Algeria nói chung mà còn giúp sinh viên, giảng viên, cán bộ Nhà trường hiểu sâu hơn và góp phần vào quan hệ song phương giữa hai nước.

GS. TS Phạm Quang Minh trao quà lưu niệm cho Đại sứ Mohamed Berrah

Trong thời gian vừa qua, Trường ĐHKHXH&NV đã tổ chức các hoạt động để tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước đối tác. Gần đây nhất, Nhà trường phối hợp với Bảo tàng Tưởng niệm Hoà bình Quốc gia Dành cho nạn nhân của Vụ ném hom nguyên tử Nagasaki (Nhật Bản) tổ chức triển lãm ảnh “Từ đổ nát đến hồi sinh” từ ngày 25/9-05/11/2017.

Tiền thân là CLB Vovinam Báo chí Nhân văn thành lập ngày 16/4/2014, trực thuộc Trường ĐHKHXH&NV, cho đến nay, CLB đã và đang từng bước phát triển và gặt hái được một số thành công nhất định. Có được thành công ngày hôm nay là tâm sức của những con người dẫn dắt và đồng hành cùng CLB trong suốt chặng đường vừa qua.

Ảnh 1: Câu lạc bộ Vovinam Nhân văn tại sự kiện “Festival Nghĩa tình mùa thu”

Giai đoạn đầu, CLB thành lập với mục đích mang đến sân chơi bổ ích cho các bạn sinh viên nhằm nâng cao sức khỏe, tạo môi trường tác nghiệp báo chí và hơn hết góp phần vào sự phát triển chung của môn võ Vovinam. Sau một thời gian hoạt động, CLB đã mở rộng quy mô không chỉ cho sinh trong trường mà còn sinh viên trường khác như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Thủy Lợi, ĐH Thăng Long...

Ảnh 2: Câu lạc bộ Vovinam Nhân văn trong một buổi tập luyện

Là một trong những người đầu tiên dẫn dắt CLB, anh Nguyễn Quang Hòa - HLV chính của CLB chia sẻ: “Giai đoạn đầu đi vào hoạt động, các bạn còn e dè khi đăng ký tập luyện nên số lượng người tham gia còn ít. Một phần vì CLB chưa có thảm, chưa có đầy đủ dụng cụ tập luyện và còn ít người biết đến.” Tuy nhiên có thể thấy rằng CLB Vovinam Nhân văn hiện nay đang là một trong số những CLB hoạt động tích cực, hiệu quả nhất tại trường. Điều nay được chứng minh qua những thành tích mà CLB đã gặt hái trong năm 2017.

Tại Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ V (2015). Mặc dù thi đấu với những đối thủ lớn hơn, nhưng các bạn sinh viên trong CLB đã giành được 01 Huy chương Bạc, 04 bộ Huy chương Đồng.

Tuy nhiên năm 2017 đã đánh dấu sự phát triển vượt trội về khả năng thi đấu của các bạn sinh viên trong CLB. Tại giải Vô địch Vovinam Sinh viên miền Bắc (2/6 - 4/6/2017), CLB Vovinam Nhân văn đã mang về cho khối Đại học Quốc gia tổng 11 bộ huy chương bao gồm: 3 huy chương Vàng, 2 huy chương Bạc, 6 huy chương Đồng. Chung cuộc khối Đại học Quốc gia đứng thứ 4 trong bảng tổng sắp toàn đoàn.

Ảnh 3: VĐV Nguyễn Thị Thu Hiền (giáp xanh) giành Huy chương Vàng tại giải Vô địch Vovinam Sinh viên miền Bắc trong chung kết đối kháng nữ hạng cân 60-63 kg.

Đặc biệt, tại Đại hội Thể dục thể thao Hà Nội lần thứ IX (25/9 – 27/9/2017), CLB Vovinam Nhân văn đã gặt hái 8 huy chương trong đó: 04 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng, đứng thứ 3 toàn đoàn.

Có được thành công này là công sức nỗ lực tập luyện của các thành viên trong CLB. Bạn Phạm Băng Sương (K61 Quan hệ công chúng) - Chủ nhiệm CCLB chia sẻ: “Tại Đại hội Thể dục thể thao Hà Nội vừa qua, trong đội tuyển có những bạn vừa đi học quân sự trên Hòa Lạc, vừa tranh thủ luyện tập với cường độ rất căng vì thời gian có hạn. Đến ngày thi đấu, nhiều bạn bị chấn thương nhưng vẫn quyết tâm lên sàn đấu vì màu cờ sắc áo, không nản chí bỏ cuộc”.

Không ngại gian khổ, các bạn sinh viên tại CLB Vovinam Nhân văn đã mang tinh thần thi đấu của môn võ vào trong cuộc đấu. Để thấy rằng môn võ Vovinam - Việt võ đạo không chỉ rèn luyện thể lực mà còn trau dồi đạo hạnh, khẳng khái trước mọi khó khăn.

Ảnh 4: CLB Vovinam Nhân văn gặt hái được nhiều huy chương tại Đại hội TDTT Hà Nội lần thứ IX

Ngoài hoạt động luyện tập, CLB còn tham gia các hoạt động xã hội như biểu diễn tại các chương trình nhân đạo, tham gia hiến máu,… Trong thời gian tới, CLB có dự định liên kết với các trung tâm nhân đạo để tổ chức một số hoạt động tình nguyện thường niên. Trên tất cả, đó là tinh thần của slogan mà CLB luôn hướng đến Nhân – Võ – Ái.

Đồng hành cùng CLB suốt chặng đường vừa qua, anh Nguyễn Quang Hoa đánh giá: “CLB Vovinam Nhân văn là một trong những CLB về Vovinam còn non trẻ trên thành phố Hà Nội. Đó là thử thách cho thầy và trò trong những giải đấu khu vực và toàn quốc. Những thành công mà các em có được đều được hình thành từ hình thức kỉ luật tự giác. CLB có nội quy, phương pháp tập luyện và cách sống khi khoác lên mình bộ quần áo võ”.

Có thể thấy rằng, 3 năm vừa qua là một chặng đường phấn đấu luyện tập miệt mài của các thành viên trong CLB. Với tinh thần mà CLB Vovinam luôn hướng tới, chắc chắn trong tương lai CLB Vovinam Nhân Văn sẽ phát triển hơn, đem tinh thần võ đạo đến với nhiều thế hệ.

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Vũ Thị Ngọc Bích                          

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 02/09/1992

4. Nơi sinh: Hợp Thanh -  Mỹ Đức – Hà Nội

5. Quyết định công nhận học viên số: 3683/2015/QĐ/XHNV-SĐH, ngày: 31/12/2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:

7. Tên đề tài luận văn: Phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”

8. Chuyên ngành: Triết học                      Mã số: 60.22.03.01

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Điểu, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

Karl Popper được đánh giá là một trong những triết gia có ảnh hưởng rất quan trọng của thế kỷ XX. Tư tưởng triết học của ông được thể hiện rất rõ trong nhiều tác phẩm triết học, trong đó nổi bật là tư tưởng triết học lịch sử trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”. Luận văn đã tập trung làm rõ những điều kiện và tiền đề lý luận cho sự ra đời của tác phẩm . Từ đó chỉ ra những nội dung phương pháp luận triết học lịch sử và đánh giá sơ lược những giá trị và hạn chế về những quan điểm đó.

11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: 

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Vũ Thị Ngọc Bích                       2. Sex: Female

3. Date of birth: September 2, 1992               4. Place of birth: Hop Thanh – My Duc – Ha Noi

5. Admission decision number: 3683/2015/QĐ-XHNV-SĐH, Dated: December 31, 2015 of the Principal University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hanoi

6. Changes in academic process:                

7. Official thesis title: The conception of human in existential philosophy of Albert Camus.

8. Major: Philosophy                                           Code: 60.22.03.01

9. Supervisors: Dr.Tran Thi Dieu, University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Hanoi

10. Summary of the findings of the thesis:

Karl Popper is considered one of the most influential philosophers of the 20th century. His philosophical thinking was well expressed in many philosophical works, including the philosophical thought of history in his book "The poverty of the historism”. The thesis focused on clarifying the conditions and theoretical premise for the birth of the work. From there point out the contents of the methodology of historical philosophy and briefly evaluate the values and limitations of those views.

11. Practical applicability, if any:               

12. Further research directions, if any:                  

13. Thesis-related publications:                 

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng và phu nhân trong ngày lễ mừng thọ thầy 80 tuổi tại Trường ĐHKHXH&NV (27/4/2016)

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng là người thuộc một trong những thế hệ đã thừa hưởng và góp phần tạo dựng nên truyền thống của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay. Đó là những người thầy vừa có khả năng chuyên môn cao vừa có đạo đức, nhân cách được các thế hệ sinh viên quý mến và nể trọng.

PGS Nguyễn Quốc Hùng sinh năm 1936 trong một gia đình tri thức tiểu tư sản tại Hà Nội. Sau khi xong học cấp I tại Hà Nội, ông theo học trường Trung học tại Tân Trào - Tuyên Quang (1949-1951), sau đó đi học tại Trường Trung cấp Sư phạm khối Xã hội của Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc).

GS.NGND Vũ Dương Ninh và PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng

Sau khi tốt nghiệp Trung cấp Sư phạm (cấp III), ông được cử về dạy cấp II tại trường cấp II thị xã Ninh Bình. Đến giữa năm 1957, ông chuyển về công tác tại Khu Giáo dục Liên khu III. Từ năm 1958-1960, ông chuyển về làm việc tại Ty Giáo dục Sơn Tây.

Đến năm 1961, ông được cử đi học tại Đại học Sư phạm Lê-nin ở Matxcơva chuyên ngành Lịch sử. Năm 1964, theo quyết định của Nhà nước, ông là một trong số các sinh viên theo học các ngành khoa học xã hội ở Liên Xô và Đông Âu về nước, tiếp tục theo học tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và là sinh viên khoá đầu tiên của chuyên ngành Lịch sử thế giới (1965-1966).

Năm 1966, sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông được phân công giảng dạy phần Lịch sử thế giới hiện đại, và sau đó giảng dạy các chuyên đề về chủ nghĩa đế quốc... cho sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành Lịch sử thế giới.

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng, phu nhân và PGS.TS Vũ Văn Quân (Trưởng Khoa Lịch sử) trong ngày mừng thọ

Với kinh nghiệm giảng dạy trước đây, PGS Nguyễn Quốc Hùng ý thức rất rõ tầm quan trọng của việc chuẩn bị nội dung lên lớp. Để giảng dạy các phần được phân công, ông đã đầu tư công sức tự học để trang bị thêm kiến thức về các lĩnh vực có liên quan như kinh tế, tài chính... của chủ nghĩa đế quốc. Có lẽ, ý thức tự học, tự lực, vượt khó hình thành trong môi trường Khu học xá Trung ương trước đây đã giúp ông hình thành nên khả năng tự học cao.

Đến năm 1986, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đường lối đổi mới, chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng đòi hỏi phải đẩy mạnh việc nghiên cứu sâu rộng về quan hệ quốc tế. PGS Nguyễn Quốc Hùng với sự nhạy bén chuyên môn đã nhận thấy cần phải đưa việc nghiên cứu, giảng dạy về Quan hệ quốc tế tại bậc đại học và sau đại học nhằm góp phần phục vụ đường lối hội nhập quốc tế và ngoại giao đa phương của nước ta. Ông quan tâm đến các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN... Sau khi Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập năm 1993, ông được phân công làm trưởng nhóm về Quan hệ quốc tế thuộc chương trình Đại cương.

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng và TS. Lưu Tuấn Anh (Trưởng khoa Đông phương học)

Năm 1993, ông cùng GS Phan Huy Lê và PGS Lê Quang Thiêm tham gia ban điều hành nhằm chuẩn bị xây dựng Khoa Đông Phương học. Sau khi Khoa Đông Phương học chính thức thành lập năm 1995, ông chuyển sang công tác tại Khoa Đông Phương học, đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Khoa kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Nhật Bản học, đóng góp công sức vào việc xây dựng ngành Nhật Bản học còn non trẻ tại Việt Nam.

Ngay từ khi còn rất trẻ, PGS Nguyễn Quốc Hùng đã gắn bó với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Ở độ tuổi 19, ông đã được tin tưởng giao nhiệm vụ làm Hiệu trưởng của trường cấp II thị xã Ninh Bình. Điều đó cho thấy ở ông không chỉ có khả năng chuyên môn, sư phạm tốt mà còn có cả năng lực quản lí.

Từ khi công tác tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông cũng được tín nhiệm giữ các chức vụ như: Quyền Chủ nhiệm Khoa Lịch sử (1983-1984), Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử (1983-1990), Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á- Thái Bình Dương (1990-1995), Phó Chủ nhiệm Khoa Đông Phương (1995-2000), Chủ nhiệm Bộ môn Nhật Bản (1995-2005). Dù ở cương vị nào, bên cạnh công tác chuyên môn, ông cũng đầu tư định hướng cơ bản về chuyên môn, đào tạo đội ngũ kế cận. Ông luôn yêu cầu các thế hệ sau phải không ngừng đọc, học, biến quá trình được đào tạo thành tự đào tạo, cập nhật nội dung bài giảng, nghiên cứu và bản thân thầy luôn làm gương cho các thế hệ trẻ noi theo. Một đặc điểm nổi trội trong nguyên tắc làm việc của ông, đó là đòi hỏi sự cẩn trọng rất cao. Hơn nữa, ông cũng luôn chú ý đến việc đoàn kết trong bộ môn và bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ trẻ: lao động chăm chỉ và trung thực.

Ngoài công tác quản lí, ông còn dành thời gian công bố nhiều công trình có tính chất đặt nền móng cho nghiên cứu lịch sử thế giới hiện đại, lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Liên Xô (Nga) và lịch sử Nhật Bản. Tiêu biểu như các giáo trình về Lịch sử thế giới hiện đại (1984, 1998), Cách mạng tháng Mười và phong trào giải phóng dân tộc (1987), Liên hợp quốc (1992), Quan hệ quốc tế thế kỷ XX (2000), Lược sử Liên bang Nga 1917 - 1991 (viết chung), Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ quốc tế (2005), Quan hệ quốc tế - Những khía cạnh lý thuyết và vấn đề (viết chung) (2006), Lịch sử Nhật Bản (2007), Liên Hợp Quốc và lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc (viết chung với Nguyễn Hoàng Quân, 2008)… Ông đã tham gia biên soạn sách giáo khoa lịch sử (phần lịch sử thế giới) cho học sinh phổ thông như sách giáo khoa Lịch sử lớp 9, sách giáo khoa Lịch sử lớp 12... Ngoài ra, ông tham gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập).

PGS Nguyễn Quốc Hùng còn là người đã phát hiện, sưu tầm và dịch bản Tham luận của Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ (1924) và đã được đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập. Ông là người đầu tiên dịch và giới thiệu những văn kiện có ý nghĩa quan trọng quan hệ quốc tế như Tuyên bố của ba cường quốc tại Hội nghị Te-hê-ran 1943, Hiệp định của Ba Cường quốc Vĩ đại về các vấn đề Viễn Đông tại Hội nghị Yalta 2/1945, Văn kiện về đầu hàng quân sự của nước Đức quốc xã 8/5/1945, Tuyên ngôn về quyền của con người của Liên Hợp Quốc (1948).

Với tất cả những đóng góp cho sự nghiệp đào tạo giáo dục, ông được Nhà nước phong tặng học hàm Phó Giáo sư năm 1991, danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1997, Nhà giáo Nhân dân năm 2008.

Phó Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quốc Hùng

  • Năm sinh: 1936. Năm mất: 2017.
  • Quê quán: Hà Nội.
  • Tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lịch sử thế giới tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1966.
  • Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1991.
  • Được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1997.
  • Được tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.
  • Thời gian công tác tại Trường: 1966-2005.
  • Đơn vị công tác:

Bộ môn Lịch sử thế giới, Khoa Lịch sử (1966-1995).

Bộ môn Nhật Bản học, Khoa Đông Phương học (1995-2005).

  • Chức vụ quản lí:

Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử (1983-1990).

Quyền Chủ nhiệm Khoa Lịch sử (1983-1984).

Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương (1990- 1995).

Phó Chủ nhiệm Khoa Đông Phương học (1995-2000).

Chủ nhiệm Bộ môn Nhật Bản học, Khoa Đông phương học (1995-2005).

  • Các hướng nghiên cứu chính: Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử Liên Xô (Nga) và Lịch sử Nhật Bản
  • Các công trình khoa học tiêu biểu:

Lịch sử hiện đại thế giới (1917-1945) (viết chung), NXB ĐH&THCN, 1984.

Văn minh thế giới thế kỉ XX, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, 1998.

Quan hệ quốc tế thế kỉ XX, NXB Giáo dục, 2000.

Lược sử Liên bang Nga 1917-1991 (viết chung), NXB Giáo dục, 2002.

Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, 2005.

* Một số hình ảnh đẹp về PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng lúc sinh thời bên bạn bè, đồng nghiệp và sinh viên:

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng (1936-2017)

PGS.NGND Nguyễn Quốc Hùng - nguyên Quyền Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Đông phương học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Huy hiệu 55 tuổi Đảng - đã từ trần hồi 18 giờ 00 ngày 20/10/2017, tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô, hưởng thọ 82 tuổi.

Lễ viếng được tổ chức từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ 45 phút, thứ Ba, ngày 24/10/2017 (tức ngày 05 tháng 9 năm  Đinh Dậu), tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.

Lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 8 giờ 45 phút cùng ngày. 

 An táng vào hồi 13 giờ 00 cùng ngày tại Nghĩa trang Công viên Vĩnh Hằng, Ba Vì,  Hà Nội.

Kính báo

 

Buổi lễ có sự hiện diện của GS.TS Phạm Quang Minh (Hiệu trưởng Nhà trường); TS. Nguyễn Quang Liệu (Phó Chủ tịch công đoàn ĐHQGHN); PGS.TS Trần Thị Minh Hòa (Phó Hiệu trưởng Nhà trường); TS. Ngô Thị Kiểu Oanh (Chủ tịch Công đoàn trường, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi); ThS. Nguyễn Sơn Minh – Phó trưởng Ban Giám khảo cuộc thi; ông Võ Xuân Long – Phó Giám đốc chi nhánh SHP Tây Hà Nội; bà Nguyễn Phương Hiền (Giám đốc Phòng Giao dịch SHP Nguyễn Trãi); bà Vũ Thị Thu Thủy (Giám đốc Thuy An Spa and Beauty Ba Đình, Hà Nội). Ngoài ra buổi lễ còn có sự hiện diện của lãnh đạo các đơn vị và rất nhiều các cán bộ nữ công đoàn viên.

Trong không khí cởi mở, gần gũi của buổi lễ, GS.TS Phạm Quang Minh (Hiệu trưởng Nhà trường) gửi lời chúc mừng đến các nữ công đoàn viên của Nhà trường. Hiệu trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của phụ nữ đối với sự sinh tồn và phát triển của thế giới. Để bày tỏ sự cảm mến đối với các nữ công đoàn viên trong trường, GS. TS Phạm Quang Minh đã gửi tặng bốn câu thơ thể hiện công lao to lớn của những người phụ nữ trong công cuộc xây dựng và kiến tạo thế giới:

“Phụ nữ, chứ không phải chúa trời đã tạo ra thế giới

Khi những người đàn ông đang mải mê với những cuộc chiến chinh

Phụ nữ cho ra đời một lớp hậu sinh

Mà trí thông minh vượt xa hơn cả bố”.

GS.TS Phạm Quang Minh tặng hoa chúc mừng đại diện nữ Công đoàn viên trường – TS. Ngô Thị Kiều Oanh (Chủ tịch Công đoàn Trường)

Ngay sau phần lễ kỉ niệm, TS. Ngô Thị Kiều Oanh - Trưởng Ban tổ chức đã tổng kết cuộc thi “Ảnh đẹp nữ công đoàn viên USSH”. Cô Oanh nói, đăng ảnh lên facebook thì không lạ, nhưng là một cuộc thi ảnh thì chưa từng có tại Trường ĐHKHXH&NV. Ý nghĩa ban đầu của cuộc thi nhằm tôn vinh những hình ảnh đẹp nhất của nữ công đoàn viên Nhà trường nhân ngày 20/10. Cuộc thi là để các nữ công đoàn viên Nhà trường có cơ hội chia sẻ với đồng nghiệp trong và ngoài trường những khoảnh khắc ấn tượng, đáng nhớ trong hoạt động chuyên môn và đời thường của mình. Qua đó, mọi người sẽ biết đến họ nhiều hơn.

TS. Ngô Thị Kiều Oanh (Chủ tịch Công đoàn trường, Trưởng BTC cuộc thi) phát biểu tổng kết cuộc thi “Ảnh đẹp nữ Công đoàn viên USSH"

Ban Giám khảo cuộc thi đều là những người có chuyên môn về ảnh, bao gồm: Nhà báo Nguyễn Trọng Chính (Thư kí Chi hội Báo ảnh Việt Nam, Trưởng Ban Giám khảo); ThS. Phan Văn Kiền (Bộ môn Báo Ảnh, Khoa Báo chí và Truyền thông); ThS. Nguyễn Sơn Minh – người sáng lập và điều hành fanpage cuộc thi.

Sau một thời gian làm việc với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm, Ban Giám khảo đã chọn ra những giải thưởng cho cuộc thi. Căn cứ vào tình hình thực tiễn với sự hưởng ứng nhiệt tình của những nữ công đoàn viên, ngoài những giải đã công bố theo thể lệ, Ban tổ chức đã thêm một số giải rất bất ngờ và thú vị.

GS.TS Phạm Quang Minh công bố và trao giải cá nhân cho các nữ công đoàn viên

Theo các công đoàn viên, cuộc thi “Ảnh đẹp nữ công đoàn viên” đã diễn ra thành công tốt đẹp. Cuộc thi thực sự tạo ra một sân chơi để các công đoàn viên  có cơ hội nhìn thấy nhau, biết đến nhau, chia sẻ và gắn bó yêu thương với nhau nhiều hơn. 

Cô Nguyễn Thu Hiền (Công đoàn Khoa Văn học) chia sẻ cảm nhận khi tham gia cuộc thi

Lễ kỉ niệm và trao giải được kết thúc bằng vở kịch mang tên “Tôi đẹp, tôi có quyền” của đoàn kịch số 10 – Nhà hát Tuổi trẻ ngay trên sân khấu tầng 8 nhà E. Vở kịch đã chạm vào trái tim người xem khi đưa đến những góc nhìn khác về vẻ đẹp chuẩn mực và sự tôn trọng những vẻ đẹp khác biệt. Đây chính là món quà mà Nhà trường muốn gửi đến các nữ công đoàn viên.

Toàn cảnh vở diễn của đoàn kịch nhà hát Tuổi trẻ trên sân khấu tầng 8 nhà E

Cụ thể, các giải thưởng được trao gồm:

  • Giải Nhất tập thể: Công đoàn Khoa Khoa học Quản lí.
  • Giải Nhì tập thể: Công đoàn II khối Hiệu bộ.
  • Giải Ba tập thể: Công đoàn Khoa Báo chí và Truyền thông.
  • Giải Khuyến khích dành cho tập thể công đoàn các khoa: Lịch sử, Ngôn ngữ học, Xã hội học, Việt Nam học và Tiếng Việt, Tâm lí học, bộ môn Tôn giáo học.
  • Giải Nhất cá nhân: Đ/c Nguyễn Hạnh Liên – Công đoàn Khoa Tâm lí học.
  • Giải Nhì cá nhân: Đ/c Nguyễn Thu Hiền – Công đoàn Khoa Văn học.
  • Giải Ba cá nhân:  Đ/c Nguyễn Thị Hoài – Công đoàn Khoa Triết học.
  • Ảnh chụp trên giảng đường đẹp nhất: Đ/c Nguyễn Thị Thanh Huyền – Công đoàn Khoa Báo chí và Truyền thông.
  • Ảnh đời thường đẹp nhất: Đ/c Nguyễn Thị Giang – Công đoàn Khoa Đông phương học.
  • Ảnh khoảnh khắc ấn tượng nhất: Đ/c Bùi Thị Gấm – Công đoàn 4 Khối Hiệu bộ.
  • Ảnh làn da đẹp tự nhiên nhất: Đ/c Tạ Thị Thu Huyền – Công đoàn 3 Khối Hiệu bộ.
  • Ảnh nụ cười tự nhiên nhất: Đ/c Ngô Thị Kim Hương – Công đoàn Khoa Xã hội học.
  • Ảnh mẹ và con đẹp nhất: Đ/c Nguyễn Thu Giang – Công đoàn Khoa Báo chí và Truyền thông.
  • Ảnh với caption ấn tượng nhất: Đ/c Phạm Thu Hoa – Công đoàn I khối Hiệu bộ.
  • Ảnh chụp với logo trường đẹp nhất: Đ/c Phan Hương Giang – Công đoàn III khối Hiệu bộ.
  • Ảnh chụp với thiên nhiên đẹp nhất: Đ/c Kim Thị Diệp Hà – Công đoàn II khối Hiệu bộ.
  • Ảnh áo dài đẹp nhất: Đ/c Trần Thị Hạnh – Công đoàn Khoa Triết học; đ/c Nguyễn Thị Giang – Công đoàn Khoa Khoa học Quản lí; đ/c Đào Vân Chi – công đoàn Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt.
  • Giải ảnh dự thi được đăng sớm nhất: Đ/c Đinh Nhật Lê – Công đoàn Khoa Du lịch học.
  • Giải công đoàn khoa có nhiều ảnh dự thi nhất: Tập thể Công đoàn Khoa Triết học.
  • Ảnh có nhiều lượt tương tác nhất: Đ/c Nguyễn Thu Trang – Công đoàn II khối Hiệu bộ; đ/c Nguyễn Thị Thu Hằng – Công đoàn Khoa Triết học.

Thời gian

Nội dung

Thành phần

Địa điểm

Chuẩn bị

Thứ 2

23/10

 

 

 

 

8h00

Hiệu trưởng, PHTr N.V.Kim dự Hội thảo quốc tế: “Tôn giáo, Kinh tế và Cộng đồng ASEAN”

Theo giấy mời

P. 304 nhà E

Khoa KHCT và Phòng QL NCKH

8h30

 PHTr T.T.M.Hòa dự khai giảng lớp Tiếng Anh Academic Writing cho cán bộ trường

Theo đăng ký

P. 201 nhà E

Phòng TCCB

9h00

Hiệu trưởng lên lớp

 

P. 501 nhà G

 

9h30

PHTr H.A.Tuấn họp về tiến độ xây dựng các chương trình đào tạo thạc sỹ liên kết

Lãnh đạo Khoa BC-TT, Khoa VH, Khoa DLH, Phòng ĐT

P. 305 nhà E

Phòng ĐT

13h00

Hiệu trưởng dự buổi thuyết trình của GS. Vương Minh (Quỹ Kamenori, Nhật Bản)

 

P. 504 nhà C

Phòng HT-PT, Khoa ĐPH

13h30

PHTr H.A.Tuấn họp Hội đồng chấm luận án tiến sỹ

 

ĐHSP Hà Nội

 

14h30

Hiệu trưởng tiếp Đại sứ Angeria

PGS.TS. Trần Thiện Thanh (Khoa LS)

P. 505 nhà E

Phòng HT-PT

15h00

PHTr N.V.Kim dự Kiểm tra tiến độ đề tài Khoa học cấp Nhà nước

Đại diện lãnh đạo Phòng QL NCKH, chủ trì đề tài

P. 202 nhà Điều hành

Phòng QL NCKH, chủ trì đề tài

18h00

Hiệu trưởng dự tiếp tân của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản, Quỹ Kamenori

 

Khách sạn Nikko Hà Nội

Phòng HC-TH

Thứ 3

24/10

 

 

 

 

7h00

PHTr T.T.M.Hòa lên lớp

 

P. 101 nhà A-B

 

9h00

Hiệu trưởng họp Ban tổ chức Hội thảo 100 năm Cách mạng tháng 10 Nga

Thành viên Ban tổ chức

Trung tâm văn hóa Nga, Số 501 Kim Mã

Phòng HC-TH, Phòng QLNCKH

10h00

PHTr H.A.Tuấn tiếp đại diện Đại học TC-KT Vân Nam (Trung Quốc)

Lãnh đạo: Khoa NNH, Phòng ĐT, Phòng HT-PT

P. 505 nhà E

Phòng ĐT

14h00

PHTr N.V.Kim họp triển khai Hội nghị Khoa học sinh viên năm học 2017-2018

Đại diện lãnh đạo và trợ lý các Khoa

P. 506 nhà E

Phòng QL NCKH

14h30

Hiệu trưởng đi công tác đến hết 28/10

 

Cần Thơ

 

15h00

PHTr H.A.Tuấn họp Hội đồng nghiệm thu Đề án mở ngành thạc sỹ Quản lý Văn hóa

Các thành viên Hội đồng

P. 506 nhà E

Phòng ĐT

Thứ 4

 25/10

 

 

 

 

 

7h00

PHTr N.V.Kim lên lớp

 

P. 203 nhà I

 

7h00

PHTr T.T.M.Hòa lên lớp

 

P. 101 nhà A-B

 

10h00

Phó PHTr N.V.Kim họp Ban tổ chức hội thảo: “Định hướng phát triển ngành Lưu trữ học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập khu vực và Toàn cầu hóa”

Thành viên Ban tổ chức

P. 506 nhà E

Khoa LTH&QTVP và Phòng QLNCKH

11h00

PHTr N.V.Kim họp Ban tổ chức hội thảo: “Phát triển Du lịch bền vững ở khu vực Đông Nam Á: Những vấn đề đặt ra”

Thành viên Ban tổ chức

P. 506 nhà E

Khoa DLH và Phòng QLNCKH

12h45

PHTr N.V.Kim lên lớp

 

P. 401 nhà A-B

 

13h00

PHTr H.A.Tuấn giảng chuyên đề

 

 

 

 

14h00

PHTr T.T.M.Hòa họp về điều chỉnh Quy chế chi tiêu nội bộ

Lãnh đạo các Phòng, Trung tâm thuộc khối Hiệu bộ

P. 506 nhà E

Phòng TC-CB, Phòng KH-TC

 

Thứ 5

26/10

 

 

 

 

 

8h00

PHTr H.A.Tuấn dự Hội nghị tổng kết tuyển sinh đại học chính quy của ĐHQGHN năm 2017

Theo triệu tập

P. 203 nhà Điều hành

Phòng HC-TH

8h30

Đại diện Ban Giám hiệu dự bảo vệ luận án tiến sĩ ngành Văn học

 

P. 302 nhà E

 

11h00

PHTr H.A.Tuấn làm việc tại Đại sứ quán Hàn Quốc

 

Cầu Giấy, HN

 

12h45

PHTr N.V.Kim lên lớp

 

P. 404 nhà G

 

16h50

PHTr N.V.Kim đi công tác đến hết ngày 29/10

 

Bình Định

 

Thứ 6

27/10

 

 

 

 

 

8h30

PHTr H.A.Tuấn dự Hội nghị về phát triển các không gian sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp ở ĐHQGHN

 

P. 203 nhà Điều hành

Phòng HC-TH

 

11h30

PHTr T.T.M.Hòa dự sinh hoạt số 14 của “Lunch Box Club for English” (LBCE) dành cho CB-GV Nhà trường

Theo đăng ký

Tầng 1 nhà E

Phòng TCCB

 

14h00

PHTr T.T.M.Hòa dự Đại hội Hội Cựu giáo chức trường lần thứ III (NK 2017-2022)

Theo Giấy mời và Giấy triệu tập

P. 506 nhà E

VP Công đoàn

 

Thứ 7

28/10

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CN

29/10

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nét đẹp công đoàn viên 2017 - Giải cá nhân

Nét đẹp công đoàn viên 2017 - Giải tập thể

Nét đẹp công đoàn viên 2017 - Nhóm giải thưởng

Hội thảo lần này tập trung vào hai vấn đề thách thức lớn của quá trình triển khai tài nguyên giáo dục mở, đó là: Bản quyền và Giấy phép mở. Gần 70 chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan nghiên cứu, giáo dục và quản lý trong và ngoài nước tham dự hội thảo.

Triển khai tài nguyên giáo dục mở: Bản quyền và Giải pháp

GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu tại hội thảo

Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS Nguyễn Văn Kim (Phó Hiệu trưởng Nhà trường) khẳng định: Việt Nam đang hội nhập với thế giới trong bối cảnh một nền khoa học mở và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là những thuận lợi và cũng là những thách thức lớn trong quá trình phát triển của đất nước. Nghiên cứu và thúc đẩy các chương trình, dự án trong lĩnh vực tài nguyên giáo dục mở thực sự phù hợp và cấp thiết để phát triển một nền khoa học mở, bắt nhịp với xu hướng toàn cầu”. Khoa Thông tin – Thư viện đã nỗ lực thí nghiệm các mô hình, tư vấn, khuyến nghị các chính sách, tổ chức nhiều hội nghị tập huấn, quy tụ các bên liên quan ký cam kết triển khai OER. Phó Hiệu trưởng Nhà trường hy vọng rằng, những vấn đề được nêu và thảo luận trong hội thảo lần này sẽ góp phần phân tích, đề xuất các giải pháp hiệu quả để việc ứng dụng và phát triển bền vững tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ đắc lực cho công tác phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.

TS. Đỗ Văn Hùng (Trưởng Khoa Thông tin Thư viện, Trường ĐHKHXH&NV)

Báo cáo đề dẫn của TS. Đỗ Văn Hùng (Trưởng Khoa Thông tin - Thư viện, Trường ĐHKHXH&NV) nêu chi tiết thực trạng và các thách thức đặt ra trong quá trình triển khai OER tại Việt Nam thời gian qua. Những năm qua, OER tại Việt Nam đã triển khai 02 mô hình thử nghiệm, nhiều hội thảo chuyên sâu, các cuộc tập huấn và hướng tới một sự cam kết hành động trong tương lai. Thực tế cho thấy, mặc dù giá trị của khái niệm “mở” hoàn toàn phù hợp với xu hướng của khoa học công nghệ toàn cầu, của những mục tiêu phát triển bền vững mà Liên hợp quốc đề ra, nhưng cho đến nay tại Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn còn nhiều vướng mắc. Tại Việt Nam, các đơn vị đang phải đứng trước thách thức: thiếu định hướng về công nghệ mở, chưa có chính sách cho truy cập mở, lúng túng trong vấn đề pháp lý và giấy phép mở. Những mâu thuẫn trong các mối quan hệ giữa lợi ích, giá trị của “Mở”, với hệ thống pháp luật, vấn đề vi phạm bản quyền...Chính vì vậy, cần tìm ra một tiếng nói chung, một con đường để cách tiếp cận và triển khai OER thực sự khả thi và hiệu quả.

Ông Lê Trung Nghĩa, chuyên gia về Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam

Bà Pyrou Chung, chuyên gia tư vấn của Open Development Initiative, EWMI

Hội thảo đã được nghe các báo cáo trình bày về thực trạng và mô hình triển khai OER, kinh nghiệm của các tổ chức trong nước và quốc tế, đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những rào cản trong bảo hộ quyền tác giả vấn đề bản quyền tác giả, nội dung, dữ liệu mở và truy cập mở...

PGS.TS Trần Thị Quý (Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Thông tin – Thư viện)

PGS.TS Trần Thị Quý  (Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Thông tin – Thư viện), đại diện Ban tổ chức tổng kết hội thảo: “ Ý kiến của các đại biểu đã chia sẻ và gợi mở nhiều ý tưởng cho việc nghiên cứu, triển khai và giải quyết các thách thức đặt ra đối với OER tại Việt Nam. Đặc biệt là việc tháo gỡ những rào cản về vấn đề giấy phép và bản quyền. Các báo cáo tham luận dù được trình bày với các cách tiếp cận và những góc độ khác nhau nhưng đều quy về một điểm chung, khẳng định OER là một công cụ hữu hiệu đối với công cuộc đổi mới giáo dục đại học Việt Nam nói riêng và nền khoa học, công nghệ nói chung. OER chỉ có thể trở thành hiện thực khi các nút thắt về rào cản được giải quyết, đó là vấn đề về sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước. Đồng thời, sự đồng lòng, chia sẻ và hợp tác chặt chẽ giữa các cá nhân, tổ chức liên quan sẽ tiếp tục nhân rộng tinh thần, giá trị cũng như hiện thực của OER ngày càng nhân rộng và hiệu quả”.

Chương trình hội thảo:

Phiên thứ nhất – Bản quyền và Giấy phép mở:

1. Xử lý vấn đề bản quyền tác giả để tuân thủ chính sách khoa học mở và truy cập mở ở Liên minh châu Âu và gợi ý đề xuất cho Việt Nam – Lê Trung Nghĩa, chuyên gia về Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam.

2. Kinh nghiệm xử lý vấn đề bản quyền đối với dữ liệu mở và truy cập mở - Pyrou Chung, chuyên gia tư vấn của Open Development Initiative, EWMI.

3. Đề xuất cho Việt Nam trong việc nâng cao Luật sở hữu trí tuệ từ trường hợp khiếu nại của Elsevier đối với vi phạm bản quyền của Sci Hub – PGS.TS Trần Văn Nam, Trưởng khoa Luật, Đại học Kinh tế Quốc dân.

4. Khắc phục những rào cản trong bảo hộ quyền tác giả để xây dựng truy cập mở và tài nguyên giáo dục mở - PGS.TS Trần Văn Hải, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Phiên thứ hai – Triển khai OER:

5. Yếu tố “Mở” trong chương trình Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam VOER và một số kinh nghiệm xử lý vấn đề bản quyền nội dung – Đỗ Minh, Giám đốc Chương trình tài nguyên giáo dục mở Việt Nam.

6. Tìm hiểu chính sách truy cập mở đến các kết quả nghiên cứu sử dụng kinh phí công trên thế giới và một số đề xuất đối với Việt Nam – Cao Minh Kiểm, Tổng thư ký Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ.

7. Vai trò của giáo viên trong sử dụng và sản xuất tài nguyên giáo dục mở - TS. Đậu Mạnh Hoàn, Trung tâm học liệu, Đại học Quảng Bình.

8. Một số góp ý cho việc phát triển OER tại Việt Nam dưới góc nhìn của Hội thư viện Việt Nam – Nguyễn Hữu Giới,  Ban chấp hành Hội thư viện Việt Nam.

Tại buổi làm việc, GS. TS Phạm Quang Minh đã giới thiệu ngắn gọn về tình hình đào tạo và nghiên cứu của Trường ĐHKHXH&NV. Hiệu trưởng cho biết, Khoa Khoa học Quản lý của Nhà trường là một trong những cơ sở đào tạo uy tín về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Khoa đã đóng góp nhiều cử nhân, thạc sĩ cho nguồn nhân lực về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Nhà trường có quan hệ gắn bó và đã phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam tổ chức các hoạt động trao đổi, tìm hiểu về sở hữu trí tuệ như cuộc thi “Sở hữu trí tuệ - cầu nối sinh viên với doanh nghiệp” vào tháng 4/2016, Hội nghị khoa học sinh viên về Sở hữu trí tuệ năm tháng 5/2017. 

Thay mặt phía Trung Quốc, ông Liao Tao gửi lời cảm ơn tới sự đón tiếp chân thành của Trường ĐHKHXH&NV. Trong bối cảnh hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng tăng, Tổng Cục Sở hữu Trí tuệ Trung Quốc mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác về sở hữu trí tuệ với những cơ sở đào tạo có uy tín ở Việt Nam như Nhà trường. Ông Liao Tao đề xuất việc đồng tổ chức hội thảo nhằm giới thiệu về hệ thống sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và Trung Quốc.

GS. TS Phạm Quang Minh chia sẻ với nguyện vọng của ông Liao Tao và Tổng Cục Sở hữu Trí tuệ Trung Quốc. Hiệu trưởng tin rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc, sẽ có nhiều cơ hội để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về lĩnh vực sở hữu trí tuệ và sáng chế. Nhà trường hy vọng sớm tạo được sự hợp tác chặt chẽ với Tổng Cục Sở hữu Trí tuệ Trung Quốc trong các lĩnh vực như đào tạo, tập huấn về sở hữu trí tuệ, trao đổi sinh viên ngành sở hữu trí tuệ với các trường đại học Trung Quốc. Khoa Khoa học Quản lý cùng Phòng Hợp tác và Phát triển sẽ là đầu mối giữa hai bên.

GS. TS Phạm Quang Minh trao đổi quà lưu niệm với ông Liao Tao

GS. TS Phạm Quang Minh chụp ảnh lưu niệm với ông Liao Tao

Sau phần tiếp đón, đoàn công tác phía Trung Quốc đã lắng nghe phần thuyết trình của đại diện lãnh đạo Khoa Khoa học Quản lý về các kết quả nghiên cứu, đào tạo sở hữu trí tuệ tại Trường ĐHKHXH&NV. 

Đại diện lãnh đạo Khoa Khoa học Quản lý trao đổi chuyên môn với đoàn công tác của SIPO

Tổng Cục Sở hữu Trí tuệ Trung Quốc (SIPO) được thành lập năm 1980 và là cơ quan trực thuộc Quốc Vụ viện Trung Quốc. SIPO có chức năng bảo hộ và giám sát về sở hữu trí tuệ, trong đó có ban hành, thực thi các chiến lược sở hữu trí tuệ; tiến hành các hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ; duy trì liên lạc với cục sở hữu trí tuệ các nước. SIPO cũng chịu trách nhiệm về vấn đề sáng chế. Hiện SIPO có 14.000 nhân viên, trong đó có 11.000 thẩm định viên sáng chế. Cục có trung tâm về thẩm định sáng chế tại các tỉnh ở Trung Quốc.

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Phạm Thị Thanh  

2. Giới tính Nữ

3. Ngày sinh: 14/11/1984

4. Nơi sinh: Đà Nẵng

5. Quyết định công nhận học viên số: 3683/2015/QĐ-XHNV Ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: không

7. Tên đề tài luận văn: Chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam từ năm 1994 đến nay

8. Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế      Mã số: 60.31.02.06

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Minh Hằng, hiện đang công tác tại Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

- Làm sáng tỏ thực chất chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam, giúp chính phủ Việt Nam hiểu rõ đối tác Hàn Quốc trong quan hệ hợp tác văn hóa.

- Phản ánh được quá trình Hàn Quốc thực hiện chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam, cũng như thành quả của việc thực hiện chính sách đó kể từ khi hai nước ký Hiệp định hợp tác văn hóa vào năm 1994 đến năm nay. 

- Đánh giá được tác động của việc Hàn Quốc thực hiện chính sách hợp tác văn hóa với Việt Nam từ năm 1994 đến nay; chỉ ra những hạn chế, tiêu cực trong chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc, xu hướng vận động của chính sách này; đề xuất một số kiến nghị với chính phủ Việt Nam nhằm  hạn chế các yếu tố tiêu cực, thúc đẩy các  yếu tố tích cực trong chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam; đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoạch định chính sách ngoại giao văn hóa thời kỳ hội nhập và phát triển.

11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

Đề tài luận văn về chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam có tính ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng, hoạch định chính sách hợp tác văn hóa của Việt Nam với các đối tác nước ngoài, trước hết là với Hàn Quốc trong giai đoạn mới. Hàn Quốc từ nhiều thập niên trước đã xây dựng văn hóa thành một ngành “công nghiệp” với chức năng kinh tế rõ rệt, và có hẳn một chiến lược “xuất khẩu văn hóa”, từ đó tạo nên “Làn sóng Hàn Quốc” rầm rộ trong khu vực. Trong khi đó với Việt Nam, đấy chỉ là những khái niệm mới được đề cập đến trong nghiên cứu. Bởi thế, chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam đáng được xem là “bài học” để Việt Nam nghiên cứu vận dụng, cụ thể là trong việc hoạch định chiến lược quảng bá, khuyếch trương hình ảnh Việt Nam và xuất khẩu văn hóa Việt Nam ra bên ngoài. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa, để có được đối sách phù hợp nhằm phát huy những thành quả của quan hệ hợp tác văn hóa Việt Nam – Hàn Quốc. 

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

Trên cơ sở luận văn được bảo vệ thành công, tác giả sẽ phát triển đề tài nghiên cứu theo hướng so sánh giữa chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam với chính sách hợp tác văn hóa của Hàn Quốc với các đối tác Đông Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,  những nơi mà “Làn sóng Hàn Quốc” (Hanllyu) diễn ra mạnh mẽ. Nếu hướng nghiên cứu này thuận lợi, tác giả có thể chuyển thành đề tài luận án tiến sĩ, thực hiện tại Hàn Quốc hoặc Việt Nam. 

13. Công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:

Ngoại giao Văn hóa của Hàn Quốc với Việt Nam Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ đô Hà Nội Tháng 10/2016, ISBN 2354-1512

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Phạm Thị Thanh                  2. Sex: Female

3. Date of birth: 14/11/1984                      4. Place of birth: Da Nang

5. Admission decision number: 3683/2015/QĐ/XHNV dated December 31st, 2015 by Rector of University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Hanoi.

6. Changes in academic process: None

7. Official thesis title: Republic of Korea’s policies on cultural cooperation with Viet Nam (from 1994 to now)

8. Major: International Studies                    Code: 60.31.02.06

9. Supervisor: Dr.Hoang Minh Hang– Institute for Northeast Asian Studies, Vietnam Academy of Social Sciences

10. Summary of the findings of the thesis:

- Clarifying the nature of Korea’s policy on cultural cooperation with Viet Nam’s government aiming to enhance more mutual understanding.

- Reflecting the process and result of implementation on cultural cooperation policy between Korea and Viet Nam since 1994 up to now.

- Evaluating and pointing out limitation and negative impact of this policy as well as proposing some recommendations for Viet Nam’s government to develop positive factors of this policy; drawing valuable experience for Viet Nam in the process of global integration and development.

11. Practical applicability, if any:

The practical application of the thesis is high. The result can be applied for the development and planning the Viet Nam’s policies on cultural cooperation with other partners, especially in the new period. Since many years, Korea had developed its culture to become an “industry” aiming to export. This phenomenon has become the "Korean Wave" in the region and the world. Meanwhile, cultural export is mentioned as a case study in Viet Nam.

Therefore, the thesis is considered as a lesson for Viet Nam to study and apply in planning and promoting the image of the country as well as exporting Vietnamese culture to the world. In addition, the thesis can be used as the reference for the management agencies on culture in order to promulgate appropriate measures to promote the achievements on cultural cooperation between the two countries.

12. Further research directions, if any:

After finishing the thesis, the author will continue develop this thesis topic aiming to compare the Republic of Korea’s policies on cultural cooperation with Viet Nam to the Republic of Korea’s policies on cultural cooperation with other East Asian countries such as China, Japan, and Taiwan, where the "Korean Wave" (Hanllyu) took place strongly. If it is favorable, the author may apply for PhD. Candidate conducting in Korea or Viet Nam.

13. Thesis-related publications:

Cultural diplomacy of the Republic of Korea with Viet Nam, Scientific Journal - Hanoi Metropolitan University Oct,2016, ISBN 2354-1512

Giới thiệu chung

TASS có các chức năng tư vấn, tổ chức và thực hiện các hoạt động, dịch vụ với 3 lĩnh vực chính:

  • Về Du lịch: Tư vấn chương trình, cung cấp dịch vụ du lịch trọn gói trong và ngoài nước…
  • Về Sự kiện: Thiết kế, tổchức các loại hình sự kiện đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và kết nối các doanh nghiệp…
  • Về Đào tạo: Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng kỹ năng theo yêu cầu, liên kết quốc tế…

Định hướng phát triển của TASS:

  • Về Du lịch: Phát triển hơn nữa loại hình Du lịch thiện nguyện, giáo dục, nghiên cứu khoa học, thực tập, thực tế cho học sinh, sinh viên, giáo viên trong và ngoài nước.
  • Về Sự kiện: Đầu tư phát triển dịch vụ tư vấn và tổ chức các sự kiện giáo dục, triển lãm giáo dục.
  • Về Đào tạo: Phát triển chương trình học tiếng Anh trực tuyến.
  • Sản phẩm mới: Du lịch trại hè, tư vấn học bổng, du học ngắn hạn.

Cơ cấu tổ chức

 

Giám đốc

TS. Nguyễn Thu Thủy

thuy.nt@vnu.edu.vn

 

Các bộ phận chức năng

  • Bộ phận Du lịch
  • Bộ phận Sự kiện
  • Bộ phận Đào tạo và Du học
  • Bộ phận Hành chính Kế toán

Hoạt động tiêu biểu

  • Hoạt động du lịch giáo dục, thiện nguyện hợp tác với các đối tác tại Singapore: tập trung hỗ trợ trường học nghèo tại một số tỉnh vùng sâu, vùng xa của Việt Nam với các hoạt động như: sơn sửa lớp học, làm lại hàng rào, cổng trường, xây dựng khu vệ sinh, thư viện xanh, giao lưu văn hóa…
  • Các chương trình thực tập, thực tế cho các đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, các chương trình giao lưu văn hóa, nghiên cứu khoa học cho sinh viên đến từ các trường đại học, cao đẳng từ Nhật Bản, Singapore, TháiLan...
  • Kết hợp tới Tổ chức Đại sứ trẻ Châu Á Youth Ambassador tại Singapore tổ chức các Hội trại, Diễn đàn khoa học dành cho thanh thiếu niên Châu Á. Kết hợp với Hiệp hội đào tạo Anh ngữ CALA và BESA tại Philippines phát triển các trại hè Anh ngữ.
  • Kết hợp với Trung tâm giáo dục Đài Loan tổ chức Triển lãm giáo dục Đài Loan và là đối tác cung cấp dịch vụ hậu cần đào tạo cho Viện liên kết Toàn cầu IGE trong các khóa bồi dưỡng về Tôn giáo và Pháp quyền.

Thông tin liên hệ

Phòng 108-109, nhà A Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn

Số 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

Điện thoại: (024) 35579912/(024) 35579692

Email: tass@ussh.edu.vn

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Dương Hồng Nhung                                                

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 21/9/1989

4. Nơi sinh: tỉnh Tuyên Quang

5. Quyết định công nhận học viên số: 3215/2014/QĐ-XHNV-SĐH, ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

7. Tên đề tài luận văn: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2005 đến năm 2015.

8. Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam         Mã số: 60.22.03.15

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Liệu, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:

- Trình bày hệ thống những chủ trương, chính sách trong quá trình lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2005 đến năm 2015 của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang.

- Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang  lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2005 đến năm 2015.

- Những kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh  lãnh đạo công tác thanh niên.

11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

Thông qua nghiên cứu đề tài dần làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển công tác thanh niên trên địa bản tỉnh. Rút ra được những bài học kinh nghiệm chủ yếu trong công tác thanh niên của tỉnh hiện nay.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang  lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2005 đến 2017.

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn: Không.

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Duong Hong Nhung                                           2. Sex: Female

3. Date of birth: September 21st 1989                                  4. Place of  birth: Tuyen Quang province.

5. Admission decision number: 3215/2014/QĐ-XHNV-SĐH, Dated: 31/12/2014 by VNU University of Social Science and Humanities.

6. Changes in academic process: no

7. Official thesis title: Tuyen Quang province Party leadership the youth work from 2005 to 2015

8. Major: History of the Communist Party of Vietnam          Code: 60.22.03.15

9. Supervisors: Dr. Nguyen Quang Lieu, VNU University of Social Science and Humanities.

10. Summary of the findings of the thesis:

- Presents system the guidelines and policies of the leaders of youth work from 2005 to 2015 of Tuyen Quang Party.

- The process of Tuyen Quang Party leadership the youth work from 2005 to 2015.

- The results achieved, the advantages and limitations in the process Tuyen Quang Party leadership youth work.

11. Practical applicability:

Through research on the topic gradually clarified some theoretical and practical issues about the development of youth work in the province. Drawing out the key lessons learned in youth work in the province today.

12. Further research directions:

The process of Tuyen Quang province Party leadership youth work from 2005 to 2017

13. Thesis-related publications: No

   THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hiên   

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: Ngày 28 tháng 10 năm 1992                

4. Nơi sinh: Hà Nội

5. Quyết địnhcông nhận học viên cao học số: 3683/2015/QĐ-XHNV, ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

7. Tên đề tài luận văn: Giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên Việt Nam hiên nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

8. Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học              Mã số: 60.31.02.04

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học:  TS. Vũ Thanh Bình

10. Tóm tắt các kết quả mới của luận văn

Luận văn đã phân tích, làm rõ nội dung cơ bản của quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng của việc giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên Việt Nam hiện nay.

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên Việt nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

Luận văn góp phần cung cấp những nhận thức, kiến giải mới về quan niệm của Hồ Chí Minh trong giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên; góp phần phân tích, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất một số giải pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao việc giáo dục tinh thần lập nghiệp cho thanh niên Việt Nam hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo

Đề tài sẽ tiếp tục được nghiên cứu ở bậc học cao hơn.

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Nguyen Thi Hien                   2. Sex: Female

3. Date of birth: October 28th 1992          4. Place of birth: Hanoi

5. Admission decision number: 3683/2015/QĐ-XHNV dated December 31st 2015 by Rector of University of Social Sciences and Humanities.

6. Changes in academic process: No

7. Official thesis title: Education of entrepreneurial spirit for current Vietnamese youth according to Ho Chi Minh’s thoughts.

8. Major: Ho Chi Minh’s studies                Code: 60.31.02.04                        

9. Supervisors: Dr. Vu Thanh Binh

10. Summary of new findings of the thesis:

The thesis analyzes and clarifies the basic contents of Ho Chi Minh’s viewpoints on education of entrepreneurial spirit for the youth. Based on this foundation, it analyzes the current situation of education of entrepreneurial spirit for current Vietnamese youth.

It proposes several solutions to improve the efficiency of education of entrepreneurial spirit for current Vietnamese youth according to Ho Chi Minh’s thoughts.

11. Practical applicability:

The thesis contributes into providing new knowledge and interpretations on viewpoints of Ho Chi Minh in education of entrepreneurial spirit for the youth; it contributes into analyzing and evaluating exactly the current situation and it proposes several solutions according to Ho Chi Minh’s thoughts in order to improve the education of entrepreneurial spirit for current Vietnamese youth.

The research findings of thesis can be used as references for researching the problems related to Ho Chi Minh’s thoughts.

12. Further research directions:

The thesis title will be continued to research in upper education levels.

Diễn giả cho biết, đây là một chủ đề rất quan trọng trong truyền thông chính trị ở Đức cũng như các nước khác trên thế giới hiện nay. Mỗi khi có một chính trị gia đắc cử, dư luận và báo chí truyền thông lại chia sẻ thông tin, thảo luận và thể hiện bằng nhiều cách khác nhau niềm tin và sự tín nhiệm dành cho họ.

TS. Martha đề cập đến khái niệm về niềm tin của một nhà Xã hội học nổi tiếng - Niklas Luhmann. Trong một thế giới phức tạp như hiện nay, con người không thể nào có thông tin đầy đủ về tất cả mọi thứ. Tuy nhiên, con người vẫn cần phải có niềm tin vào một điều gì đấy vì niềm tin mới thúc đẩy hành động. Do đó, lòng tin làm giảm sự phức tạp của xã hội và thế giới, giúp chúng ta vượt qua hạn chế là sự thiếu hụt về thông tin và khái quát hoá kỳ vọng của chúng ta về hành vi. Nói cách khác, niềm tin giúp thay thế những thông tin chúng ta chưa biết bằng sự bảo đảm từ bên trong mỗi người.

Niềm tin là cần thiết trong rất nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Niềm tin diễn ra ở nhiều cấp độ: cấp độ giữa cá nhân với cá nhân; cấp độ thế chế hay hay tổ chức; cấp độ cao nhất là cấp độ xã hội.

TS. Martha cũng đề cập đến sự khác biệt giữa niềm tin và hy vọng. Niềm tin là một hành động dựa trên sự chắc chắn và kỳ vọng nhất định của con người và người ta dùng nó để để ra quyết định. Nhưng hy vọng lại dựa trên những cảm giác, thông tin không rõ ràng, không chắc chắn bằng lòng tin.

Một khái niệm khác liên quan đến niềm tin là sự tín nhiệm. Diễn giả cho rằng sự tín nhiệm là một cấp độ thấp hơn của niềm tin. Đó là đặc trưng được gắn với bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào, nhưng chỉ có được sau một quá trình tương tác, liên hệ, chia sẻ với nhau. Và sự tín nhiệm cũng được thể hiện và nhìn nhận đa chiều, đa hướng. Nếu lòng tin là khái niệm liên quan đến tương lai thì tín nhiệm là khái niệm liên quan đến thời điểm hiện tại.

Bàn về những yếu tố để tạo dựng sự tín nhiệm đối với các chính trị gia trên phương diện truyền thông chính trị, bài thuyết trình đi sâu phân tích 4 yếu tố: năng lực, khả năng tương tác xã hội, uy tín, sự thấu hiểu. Trong đó, nghiên cứu truyền thông đã chỉ ra: các chính trị gia thường tạo dựng được sự tín nhiệm và lòng tin của công chúng hiệu quả qua khả năng tương tác xã hội, tạo liên kết về cảm xúc để tìm kiếm sự thấu hiểu và thông cảm của công chúng.

Vậy các nhà báo và những người hoạt động truyền thông nên chú ý đến những tiêu chí hay yếu tố nào để tạo dựng được sự tín nhiệm của độc giả ? TS. Martha chia sẻ rằng hãy chú trọng số liệu, dữ kiện, thông tin cụ thể và chính xác sẽ giúp độc giả có niềm tin với nhà báo. Mặt khác, các nhà báo cần chú trọng xây dựng và chia sẻ những câu chuyện có cảm xúc và tình huống cụ thể để tạo sự thu hút, sự thông cảm và thấu hiểu hơn từ người đọc.

PGS. TS Đặng Thị Thu Hương (Trưởng Khoa Báo chí và Truyền thông) chụp ảnh lưu niệm với TS. Martha Kuhnhenn

TS. Martha Kuhnhenn chụp ảnh lưu niệm với đại diện lãnh đạo Khoa Báo chí và Truyền thông

Nhân dịp kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 – 20/10/2017), để ghi nhận và tôn vinh nữ cán bộ, viên chức, đồng thời tạo cơ hội để toàn thể nữ cán bộ giao lưu, gặp gỡ, Công đoàn Trường tổ chức Lễ Kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Tổng kết cuộc thi “Ảnh đẹp nữ công đoàn viên Trường ĐHKHXH&NV”.

Thời gian: 8h30 ngày 20 tháng 10 năm 2017 (thứ sáu).

Địa điểm: Hội trường tầng 8 nhà E.

Tại buổi làm việc, GS. TS Phạm Quang Minh đã giới thiệu ngắn gọn về Trường ĐHKHXH&NV, một địa chỉ đào tạo khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu ở Việt Nam. Hiệu trưởng nhấn mạnh tới chiến lược quốc tế hóa của Nhà trường, trong đó có việc tăng cường quan hệ với các đối tác quốc tế. Với riêng CHLB Đức, Nhà trường có quan hệ tốt với nhiều trường đại học như Đại học Humboldt, Đại học Tổng hợp Passau, Đại học Tổng hợp Heinrich Heine Düsseldorf. Trường ĐHKHXH&NV mong muốn được trao đổi, hợp tác với Đại học Zittau/Gorlitz thông qua các hoạt động như trao đổi sinh viên, giảng viên, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam-Đức-EU tại Nhà trường, v.v

Đáp lại, PGS. TS Margit Bussmann đã thay mặt Đại học Greifswald cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình của Trường ĐHKHXH&NV. Bà cho biết, Đại học Greifswald sẵn sàng đón tiếp và tài trợ một phần kinh phí cho học viên Việt Nam tới Đức học tập và nghiên cứu.

Thay mặt Nhà trường, GS. TS Phạm Quang Minh cam kết sẽ tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện những đề xuất hợp tác giữa hai trường. Phòng Hợp tác và Phát triển sẽ là đầu mối liên lạc giữa hai bên.

GS. TS Phạm Quang Minh chụp ảnh lưu niệm với đoàn công tác của Trường Đại học Greifswald

Trường Đại học Greifswald được thành lập năm 1456 và là một trong những cơ sở giáo dục lâu đời nhất ở châu Âu. Những hướng nghiên cứu được ưu tiên tại trường liên quan đến những vấn đề như khoa học sự sống, vật lý, luật, kinh tế. Đại học Ernst-Moritz-Arndt Greifswald có 5 khoa trực thuộc gồm: Khoa Thần học, Khoa Luật và Kinh tế, Khoa Y, Khoa Triết và Khoa Toán và Khoa học Tự nhiên. 

   THÔNG TIN VỀ LUẬN VĂN THẠC SĨ

1. Họ và tên học viên: Phayom Nahorkham

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 17/11/1983

4. Nơi sinh: Thaí Lan

5. Quyết định công nhận học viên cao học số: 3071/2015/QĐ-XHNV, ngày 9 tháng 12 năm 2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: Không

7. Tên đề tài luận văn: Truyền thống thả hoa đăng trong lễ hội ở Thái Lan và Việt Nam.

8. Chuyên ngành: Việt Nam Học           Mã số: 60.22.01.13

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Vân Chi – Khoa Việt Nam Học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

10. Tóm tắt các kết quả của luận văn:          

Luận văn đã giới thiệu cho người đọc những nét khái quát về lịch sử, đặc trưng văn hóa, đặc điểm của lễ hội và một số lễ hội tiêu biểu của Thái Lan và Việt Nam. Truyền thống thả hoa đăng trong lễ hội ở Thái Lan và Việt Nam đã được mô tả trên nền bức tranh chung đó từ nguồn gốc của nghi lễ, việc thực hành nghi lễ, những nét đặc trưng trong nghi lễ thả hoa đăng tại các địa phương ở Thái Lan cũng như lễ hội thả hoa đăng tại Huế ở Việt Nam…Từ đó luận văn đã rút ra những nhận xét, đánh giá về bản chất của lễ hội thả hoa đăng, sự tương đồng và khác biệt giữa lễ hội thả hoa đăng ở Thái Lan và Việt Nam, cũng như sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Kết qủa của luận văn cũng cho thấy sự kết hợp hài hòa và sức lan tỏa trong truyền thống văn hóa của hai nước, đặc biệt là ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến đời sống của người dân từ xưa cho đến nay. Lễ hội thả hoa đăng ngoài việc thể hiện đời sống, niềm tin của người dân địa phương, còn là sự gắn kết mối quan hệ giữa người dân địa phương với người dân đến từ các vùng miền khác. Mặc dù không thể hiện qua lời nói nhưng Lễ hội là sự kết nối sâu sắc thể hiện niềm tin và tấm lòng của người dân bản địa. Ngoài việc chia sẻ truyền thống văn hóa có ý nghĩa và ấn tượng còn là việc mở lòng để đón nhận nhằm hướng tới sự hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực.

11. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

Kết quả của luận văn này, có thể được ứng dụng trong những lĩnh vực nghiên cứu  về truyền thống  thả đèn hoa đăng ở các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á, các cộng đồng tại các lưu vực sông nước tại Châu Á và trên tất cả các lục địa khác, để nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và nguồn gốc của chúng được rõ ràng hơn.

12. Những hướng nghiên cứu tiếp theo: Không

13. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn: Không

 

INFORMATION ON MASTER’S THESIS

1. Full name: Phayom Nahorkham            2. Sex: Female

3. Date of birth: 17/11/1983                       4. Place of birth: Thailand

5. Admission decision number: 3071/2015/QĐ-XHNV, on December 9, 2015 by Rector of University of Social Sciences and Humanities, Ha Noi National University

6. Change in academic process: No

7. Official thesis title: The cultural of Loy Krathng in term of festival in Thailan and Vietnam.

8. Major: Vietnamese Study                      Code: 60.22.01.13

9. Supervisor: Dr. Dang Thi Van Chi– Faculty of Vietnamese Study - University of Social Sciences and Humanities, Ha Noi National University

10. Summary of the findings of the thesis:

The thesis introduces readers about the general characteristics of history, cultural characteristics, typical festivals and some of the typify festival of Thailand and Vietnam. Loy Krathong in the festival of Thailand and Vietnam described out in the same type of frame from the origin of the festival, the performance, specific of the Loy Krathong festival at country parts of Thailand as well as the Loy Krathong festival in Hue province of Vietnam... Those made the thesis brings out the result, and evaluation essencial of the Loy Krathong festival, the similarity and difference between the Loy Krathong festival  in Thailand and Vietnam as well as the coomunications of the cultural exchange itselfe within the Souhteast Asia.

The result of this thesis shows the connection and expression of cultural between the festival of two countries, specially the impact of Bhudism cultural to the living of people from the pass until now. The Loy Krathong festival, besides showing the living , believes of the local people, and also the connecting between the local people with the visitors from others area. Even it is not connecting by speaking out, but it is a connecting deeply to express the believes and the spiritual of the local people. Besides exchanging the culteral so meaningful and immpresive, it is also open up the mind of people to receving or understanding each other too.

11. Practical applicability:

The result of this thesis can be use in the further reserch field about the Loy Krathong festival wihtin the neighbourhood countries in Southeast Asia, countries along the river in Asia and also for another countries, for the deeper comparision of the formation our origins clearer.

12. Further study directions, if any: No

13. Thesis-related publications: No