Sự bổ sung, phát triển đường lối đổi mới của Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986-2016)

I. TỪ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẠI HỘI VI (1986)

1.1. Những đột phá hình thành đường lối đổi mới

Theo mô hình và con đường đi lên CNXH được Đại hội Đảng lần thứ IV xác định, trong thời kỳ 1976- 1986, bên cạnh những thắng lợi to lớn trong bảo vệ Tổ quốc và nhiều thành tựu đáng kể trong xây dựng đất nước, tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam cũng đã bộc lộ nhiều sai lầm, yếu kém và lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng hơn. Thực trạng đó của Việt Nam cùng với những chuyển biến sâu rộng của cục diện thế giới đã đặt ra cho Đảng vấn đề đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH...

Quá trình đi tới đường lối đổi mới của Đảng đã diễn ra qua nhiều trăn trở, tìm tòi, khảo nghiệm trong đó có 3 bước đột phá lớn.  Bước đột phá mở đầu là Hội nghị BCHTW làn thứ 6, khoá IV (8-1979) chủ trư­ơng bằng mọi cách làm cho sản xuất "bung ra"; không còn xem kế hoạch hoá là hình thức duy nhất để phát triển kinh tế; khẳng định sự cần thiết phải kết hợp kế hoạch với thị tr­ường. Bước đột phá thứ hai là Hội nghị Trung ư­ơng 8, khóa V (6- 1985) với chủ trư­ơng dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Bước đột phá thứ ba là Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-l986 và cuối 1986) với "Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế": a) Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t­ư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ; công nghiệp nặng đư­ợc phát triển có chọn lọc; b) Trong cải tạo XHCN, phải xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc tr­ưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nư­ớc ta; c) Trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm,  như­ng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hoá, tiền tệ, dút khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, bao cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá. Kết luận nói trên của Bộ Chính trị có ý nghĩa to lớn trong việc định hư­ớng việc soạn thảo lại một cách căn bản Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng, Đại hội quyết định đư­ờng lối đổi mới toàn diện đất nư­ớc.

1.2. Nội dung cơ bản đường lối đổi mới của Đại hội VI

Đại hội VI của Đảng đã được tiến hành từ ngày 5 đến ngày 18-12-1986 với Báo cáo chính trị do đồng chí Trường Chinh trình bày. Đại hội đã thảo luận và thông qua đường lối đổi mới theo định hướng XHCN,  đánh dấu bước ngoặt trong sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, thể hiện trên các nội dung cơ bản như sau:

Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đã khẳng định những thành tựu và chỉ ra các hạn chế củ thời kỳ 1976- 1986, rút ra những bài học kinh nghiệm cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở xác định phải quán triệt và thực hiên 2 nhiệm vụ chiến lước là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đại hội đã nêu lên đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thể hiện tâp trung ở một số vấn đề lớn như sau:

Về quan niệm thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng coi đó là một quá trình lâu dài, gồm nhiều thời kỳ, giai đoạn kế tiếp nhau, mỗi thời kỳ, giai đoạn có mục tiêu, bước đi, quy mô, tốc độ, biện pháp thích hợp, khác nhau, từ thấp đến cao, không được nôn nóng duy ý chí đốt cháy giai đoạn mà phải theo đúng quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Theo tư duy đó, Đại hội xác định nước ta đang ở chặng đường đầu, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ.

Về mục tiêu, nhiệm vụ: Đảng cho rằng do nước ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ nên nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường này là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo. Mục tiêu cụ thể của chặng đường này là: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ; Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; Xây dựng, hoàn thiện một bước QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất; Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.

Về nhiệm vụ, giải pháp:  Đại hội chủ trương đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đối ngoại, nhưng chủ yếu là kinh tế, tập trung đổi mới kinh tế trến cơ sở đó mà từng bước đổi mới về chính trị và các lĩnh vực khác. Để đổi mới kinh tế cần thực hiện 10 giải pháp mà tập trung là bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư theo hướng coi trọng nông nghiệp, tập trung thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn (lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu); Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ ở nước ta; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN, theo cơ chế thị trường,…

 Tư tưởng chỉ đạo của đường lối đổi mới là: Giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN. Đảng, Nhà nước tạo điều kiện, cơ chế cho nhân dân làm, không làm thay nhân dân.

Như vậy, đường lối đổi mới của Đảng, trọng tâm là đổi mới kinh tế chính là tư duy mới về 3 vấn đề cơ bản: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chính lớn cơ cấu đầu tư, trước mắt tập trung cho 3 chương trình kinh tế lơn; Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển sang hoạch toán kinh doanh XHCN, thực hiện 1 giá (nói đơn giản là chuyển từ coi trọng công nhiệp sang coi trọng nông nghiêp, từ hai thành phần kinh tế sang nhiểu thành phần kinh tế và từ cơ chế khế hoạch hóa sang co chế thị trường)

II. ĐẾN QUÁ TRÌNH BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1986- 2016)

2.1. Từ năm 1986 đến năm 1996: bổ sung, phát triển đường lối đổi mới đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội

Sau Đại hội lần thứ VI (12/1986), BCHTW khóa VI đã có nhiều  Hội nghị tập trung lãnh đạo thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1986 - 1990), trong đó quan trọng là Hội nghị lần thứ 2/VI (4/1987) quyết định phương hướng giải quyết vấn đề lưu thông phân phối.Hội nghị lần thứ 3/VI (8/1987) quyết định về "chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế”. Hội nghị lần thứ 5/VI (6/1988) ra Nghị quyết Về một số vấn đề cấp bách về xây dự­ng Đảng. Hội nghị lần thứ 6/VI (1/1989) đánh giá tình hình và đề ra những chủ trương cụ thể để chỉ đạo công cuộc đổi mới vào chiều sâu và nêu ra các nguyên tắc cơ bản phải được toàn Đảng, toàn dân trong quá trình tiếp tục công cuộc đổi mới. Hội nghị lần thứ 7/VI(6/1989)ra Nghị quyết về Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng truớc tình hình trong nước và quốc tế hiện nay. Hội nghị lần thứ 8/VI (3/1990) thông qua Nghị quyết về tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta (Nghị quyết 8A).Hội nghị cũng đã thảo luận và thông qua Nghị quyết Về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh công cuộ c đổi mới (Nghị quyết 8B). Hội nghị lần thứ 9/VI (8/1990) bàn một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, với tư tưởng chỉ đạo là kiên quyết thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,…

Tháng 6 năm 1991, Đảng đã tiến hành Đại hội làn thứ VII với tinh thần :Trí tuệ - đổi mới - dân chủ - kỷ cương - đoàn kết", thông qua Cư­ơng lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2000,… C­ương lĩnh có 4 phần, 12 vấn đề lớn, đã khẳng định 4 thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng theo các cương lĩnh trước đó và rút ra năm bài học kinh nghiệm lớn, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Về xây dựng CNXH, Cương lĩnh đã trình bày khái quát những biến đổi to lớn và sâu sắc của tình hình quốc tế tác động đến cách mạng nước ta , nêu lên quan niệm của Đảng về CNXH mà nhân dân ta sẽ xây dựng là một xã hội có 6 đặc trưng cơ bản: Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các t­ư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Từ tháng 6/1991 đến 6/1996, BCHTW khóa VII đã có các  hội nghị chuyên đề bàn triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại hội. Đáng chú ý là Hội nghị lần thứ 2/VII (11/1991) bàn về vấn đề ổn định và phát triển kinh tế - xã hội và việc sửa đổi Hiến pháp. Hội nghị lần thứ 3/VII (6/1992) nghiên cứu và quyết định ba vấn đề quan trọng về: tình hình thế giới và chính sách đối ngoại; củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia; đổi mới và chỉnh đốn Đảng.Hội nghị lần thứ 5/VII(6/1993) nghiên cứu sâu hơn về thực trạng nông nghiệp và nông thôn, quyết định những chủ trương để đưa nông nghiệp và nông thôn tiến nhanh và vững chắc hơn...

Từ ngày 20 đến ngày 25/01/1994 tại Hà Nội,  Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã họp và chỉ rõ công cuộc đổi mới đang đứng trước những 4 thách thức lớn là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Hội nghị lần thứ 7/VII (7/1994) bàn định về chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân. Hội nghị lần thứ 8/VII (1/1995) bàn thảo và ra nghị quyết về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách một bước nền hành chính nhà nước…

Nhìn chung, đến nửa đầu năm 1996, công cuộc đổi mới trải qua chặng đường 10 năm, đã giành được nhiều thắng lợi mới to lớn. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.

2.2. Từ năm 1996 đến năm 2016: bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp từ ngày 22/6 đến ngày 01/7/1996 đã rút ra sáu bài học chủ yếu của 10 năm đổi mới:  Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị; Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tăng trư­ởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái; Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc; Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đại hội chủ trương chuyển sang thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Tiếp đó, Hội nghị BCHTW lần thứ 2/VIII (12/1996) đã thông qua Nghị quyết Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000; và  Nghị quyết Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000. Hội nghị lần thứ 5/VIII (7/1998) ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội...

Bước vào thế kỷ XXI, cách mạng nước ta vừa đứng trước thời cơ vận hội lớn, vừa phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức không thể xem thường. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã họp từ ngày 19 đến ngày 22/4/2001 vơi chủ đề là: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội nhấn mạnh một số bài học chủ yếu như:  Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.

Đại hội cho rằng con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thư­ợng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dư­ới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học - công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về t­ư liệu sản xuất, nhiều thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…

Sau Đại hội, Hội nghị BCHTW lần thứ 3/IX (9/2001) khẳng định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo. Hội nghị lần thứ 5/IX (2/2002) ra Nghị quyết Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 2010 và Nghị quyết về đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Nghị quyết tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế t­ư nhân. Hội nghị lần thứ 6/IX (7/2002) cho ý kiến về tiếp tục thực hiện phát triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm 2010. Hội nghị lần thứ 7/IX (3/2003) thông qua Nghị quyết về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết về công tác dân tộc và nghị quyết về công tác tôn giáo;Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị lần thứ 8/IX (7/2003) ra Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới…

Tháng 4/2006, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng  họp với chủ đề: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Đánh giá thành tựu của công cuộc đổi mới (1986 - 2006). Đại hội đã chỉnh sửa 6 đặc trưng của CNXH do Đại hội VII nêu ra và bổ sung thêm 2 đặc trưng mới là: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”([1]).

Tiếp đó, Hội nghị BCHTW lần thứ 3/X (7/2006) đã thông qua Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân.Hội nghị lần thứ 4/X (1/2007) thảo luận các đề án  về một số chủ trương, chính sách lớn khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); ra Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Hội nghị lần thứ 5/X (7/2007 nghe báo cáo và thảo luận các đề án: Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Hội nghị lần thứ 6/X (1/2008) nghe báo cáo và thảo luận các đề án: Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Về việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội. Hội nghị lần thứ 7/X (7/2008) nghe báo cáo và thảo luận các Đề án: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá"; "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế"; "Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn"…

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã diễn ra từ ngày 12 đến 19/1/2011 với chủ đề: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.  Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 được Đại hội thông qua đã xác địnhxã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựnglà một xã hội có 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới([2]).

Tiếp theo Đại hội, Hội nghị BCHTW lần thứ 3/XI(10/2011), thông qua Quy định những điều đảng viên không được làm. Hội nghị lần thứ 4/XI (12/2011) xem xét, cho ý kiến về: Đề án một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Đề án Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Hội nghị lần thứ 5/XI (5/2012) thảo luận, ban hành Kết luận về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Hội nghị lần thứ 6/XI (10/2012) thảo luận, cho ý kiến về Đề án "Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước"; về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;... Hội nghị lần thứ 7/XI (5/2013) thảo luận, cho ý kiến chỉ đạo đối với các vấn đề: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Hội nghị lần thứ 8/XI (10/2013) thảo luận, cho ý kiến về: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Hội nghị lần thứ 14/XI (1/2016)  thảo luận, thông qua chủ trương ký Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP);...

Đại hội lần thứ XII của Đảng diễn ra từ ngày 20 đến 28-1-2016 với tinh thần: “Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Đổi mới”.Đại hội cho rằng ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử;đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn. Mục tiêu tổng quát trong 5 năm 2016 – 2020 là: Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

III. MẤY SUY NGHĨ VỀ SỰ BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1- Một số đột phá mới trong bổ sung, triển đường lối đổi mới (1986- 2016)

Nhận thức là một quá trình. Sự bổ sung, phát triển đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 (Đại hội VI) đến năm 2016 (Đại hội XII) đã diễn ra từng bước dựa trên sự nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, từ yêu cầu của thực tiễn công cuộc đổi mới, trong đó nổi bật là ở các Đại hội của Đảng.

 Đại hội VII (1991) đã thông qua "Cư­ơng lĩnh xây dựng đất nư­ớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, đư­a ra được quan niệm tổng quát nhất về xã hội XHCN ở Việt Nam, phư­ơng hư­ớng cơ bản để xây dựng xã hội đó; khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tư­ởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trư­ờng có sự quản lý của Nhà nư­ớc, theo định hư­ớng XHCN; thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế,...

 Đại hội VIII (1996) khẳng định nư­ớc ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, tiếp tục làm rõ hơn quan niệm về chặng đư­ờng đầu tiên và chặng đư­ờng tiếp theo trong thời kỳ quá độ; chỉ rõ mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất n­ước là phấn đấu đ­ưa nư­ớc ta cơ bản trở thành một nư­ớc công nghiệp vào năm 2020; xem đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ hơn định h­ướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nư­ớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; nhấn mạnh phát triển giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ là quốc sách hàng đầu.

 Đại hội IX (2001), xác  định mục tiêu chung của cách mạng n­ước ta trong giai đoạn hiện tại là “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, n­ước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" (điểm mới trong mục tiêu chung này có thêm từ "dân chủ); đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn vị trí, vai trò tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh; khẳng định mô hình kinh tế tổng quát của cả thời kỳ quá độ là nền kinh tế thị trường định hư­ớng XHCN.

 Đại hội X (2006), đã  rút ra 5 bài học lớn và cho rằng nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH của Đảng đã ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản,. xác định mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là 8 đặc trưng.

 Đại hội XI (2011)đã thông qua Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, nêu lên mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN vào giữa thế kỷ XX...

Đại hội lần thứ XII của Đảng (1-2016) với chủ đề  “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ XHCN; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đó là những quan điểm vừa có tính kế thừa, vừa có sự đổi mới sáng tạo, mở ra giai đoạn phát triển nhanh và bền vững cho công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong thời gian tới.

3.2. Về kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra

Có thể nói, cho đến đầu năm 2016, Đảng ta đã cơ bản hình thành được một hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới và con đư­ờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Thực tiễn sự hình thành cũng như quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới cho thấy:

Một là, đổi mới thực chất là bảo vệ, phát huy cái gì cũ mà đúng, sửa đổi cái gì đúng mà không còn phù hợp, từ bỏ cái gĩ cũ mà sai; sáng tạo, tiếp thu cái gì mới mà tốt, biến đổi cái gì mới mà không thích hợp; kiên quyết gạt bỏ cái gì mới mà sai, không đúng với Việt Nam.

 Hai là, đư­ờng lối đổi mới là kết quả của một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, thông qua những trăn trở, đấu tranh gian khổ về tư­ duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, kết hợp với vận dụng lý luận, lần lượt trải qua những bước đột phá quan trọng từ thấp đến cao, đi từ đổi mới bộ phận đến đổi mới căn bản, từ đổi mới từng mặt đến đổi mới toàn diện và phải tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đổi mới trong thời kỳ đổi mới.

Ba là, để có sự đổi mới, Đảng phải biết lắng nghe, chắt lọc, tổng kết, khái quát ý kiến, sáng kiến, cách làm sáng tạo của nhân dân các địa ph­ương, của cơ sở để từ đó mà đi tới những quyết sách đúng, những chủ tr­ương phù hợp, nhất là vào những thời điểm khó khăn hoặc trước yêu cầu có tính b­ước ngoặt.

Bốn là, đổi mới là cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, nhiều khi diễn ra gay gắt ngay trong mỗi con ngư­ời, trong từng tổ chức, địa phương, do đó phải kiên trì đổi mr­ới, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám thừa nhận sai lầm, từ bỏ cách nghĩ, cách làm không còn phù hợp; kiên quyết khắc phục t­ư tư­ởng bảo thủ, giáo điều; đồng thời, không rơi vào cực đoan, nôn nóng, coi  đối mới là sống còn, như­ng phải làm từng bư­ớc vững chắc, thận trọng, có nguyên tắc, không xa rời mục tiêu.

Năm là, đư­ờng lối đổi mới đ­ược hình thành trên cơ sở độc lập tự chủ, sáng tạo, xuất phát từ thực tế Việt Nam, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm quốc tế một cách có chọn lọc, bảo đảm đ­ường lối đúng quy luật, thuận lòng người, hợp thời đại để nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Qua 30 năm đổi mới (1986- 2016), nhận thức của Đảng về CNXH và con đư­ờng đi lên CNXH ở nư­ớc ta ngày càng sáng tỏ hơn. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy cần và có thể bổ sung, chỉnh sửa một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, chủ đề của Đại hội Đảng lần thứ XII là đúng đắn, cô đọng, sâu sắc, song nên đưa vấn đề dân chủ lên trước tiên, thành “Tăng cường dân chủ XHCN và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Sở dĩ như vậy vì dân chủ là nhân tố hết sức cơ bản, vừa là mục tiêu vừa là động lực để xây dựng Đảng, để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, để đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thứ hai, trong các đặc trưng của mô hình XHCN Việt Nam, đặc trưng thứ nhất, nêu lên mục đích của CNXH nên xác định đầy đủ hơn là: đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất, giàu mạnh, môi trường trong sạch, phát triển bền vững, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, con người ấm no, tự do, hạnh phúc. Hoặc nêu gọn lại mục đích của CNXH là: đất nước vững bền, nhân dân hạnh phúc.

Thứ ba, chỉnh sửa nội dung đặc trưng thứ hai là thêm vào cụm từ “là chủ” để trở thành “Do nhân dân là chủ và làm chủ” thì sẽ rõ, đúng, đầy đủ hơn, dễ thực hiện hơn.

Thứ tư, nên chỉnh sửa đặc trưng thứ ba: “Có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” thành: “Có nền văn hóa khoa học, dân tộc và đại chúng” tuy có vẻ cũ, nhưng sẽ đầy đủ hơn, nhất là tính đại chúng, tính nhân dân, làm rõ được điểm xuất phát và đích đến của văn hóa.

Thứ năm: vấn đề “Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu là “Kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu thì phải giữ vững,  còn con đường là thuộc về phạm trù giải pháp, có thể linh hoạt thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam và với bối cảnh quốc tế.

Thứ sáu, có thể và nên nghiên cứu kỹ về ý kiến cho rằng đã đến lúc Đảng cần hoạch định và thực thi đường lối đổi mới mới, hay công cuộc đổi mới 2, với tinh thần cách mạng, khoa học và cầu thị./..

PGS.TS Ngô Đăng Tri

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.67-68.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,  2011, tr 70

 


  • PGS.TS Ngô Đăng Tri