Quy định của ĐHQGHN về tổ chức đào tạo môn Ngoại ngữ chuyên ngành cho NCS

Theo Quy chế đào tạo sau đại học ở ĐHQGHN, trong chương trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải hoàn thành môn học “Ngoại ngữ chuyên ngành”. Đây là môn học bắt buộc đối với tất cả NCS có quyết định công nhận của Giám đốc ĐHQGHN từ năm 2004 trở đi.

Theo Quy chế đào tạo sau đại học ở ĐHQGHN, trong chương trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải hoàn thành môn học “Ngoại ngữ chuyên ngành”. Đây là môn học bắt buộc đối với tất cả NCS có quyết định công nhận của Giám đốc ĐHQGHN từ năm 2004 trở đi.

Đối với NCS là người nước ngoài, ngoại ngữ của họ là tiếng Việt, vì vậy môn học Ngoại ngữ chuyên ngành được hiểu là môn học tiếng việt chuyên ngành. Tại công văn này, ĐHQGHN quy định một số nội dung liên quan đến môn học Ngoại ngữ chuyên ngành nhằm hướng dẫn các đơn vị đào tạo sau đại học thực hiện việc tổ chức đào tạo môn học này cho NCS của đơn vị mình.

1. Một số thông tin về môn học

- Tên môn học: Ngoại ngữ chuyên ngành

- Hình thức tổ chức hoạt động dạy-học: tự học

- Số lượng tín chỉ: 3 tín chỉ (45 giờ tín chỉ tự học)

2. Mục tiêu của môn học

- Trang bị cho NCS khả năng đọc hiểu và dịch ra tiếng Việt các tài liệu chuyên môn bằng ngoại ngữ thuộc chuyen ngành đào tạo.

- Trang bị cho NCS khả năng trình bày bằng ngoại ngữ các vấn đề khoa học trong lĩnh vực chuyên môn thuộc chuyên ngành đào tạo.

3. Nhiệm vụ của NCS

- Mỗi NCS phải đọc hiểu và dịch ra tiếng Việt một cách lưu loát một tập tài liệu chuyên môn tương đối cập nhật bằng ngoại ngữ (chưa được dịch ra tiếng Việt và được gọi là tài liệu học tập) từ 55 – 75 trang (500 từ/trang) về một hoặc một số nào đó thuộc chuyên ngành đào tạo. Tài liệu học tập có thể được trích chọn hoặc từ các tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc từ các sách chuyên khảo hoặc từ các chuyên đề nghiên cứu sinh.

- Mỗi NCS phải luyện tập để trình bày một cách gãy gọn bằng ngoại ngữ các nội dung trong tài liệu học tập của mình.

4. Trách nhiệm của đơn vị đào tạo sau đại học

- Thủ trưởng đơn vị đào tạo SĐH (trường và viện thành viên, khoa và trung tâm trực thuộc) yêu cầu và chỉ đạo tổ bộ môn phối hợp với cán bộ hướng dẫn khoa học giao tài liệu học tập cho NCS.

- Thủ trường đơn vị đào tạo SĐH quy định thời gian hoàn thành môn học, quản lí quá trình tự học của NCS, tổ chức đánh giá kết quả học tập.

5. Tổ chức đánh giá kết quả học tập

- Việc đánh giá kết quả học tập do một Tiểu ban chấm thi môn học Ngoại ngữ chuyên ngành cho NCS thực hiện. Tiểu ban chấm thi do thủ trường đơn vị đào tạo SĐH quyết định thành lập (gồm 3 người, trong đó có 1 giáo viên ngoại ngữ và 2 cán bộ khoa học chuyên ngành biết ngoại ngữ do bộ môn giới thiệu). NCS phải trình các thành viên Tiểu ban chấm thi tài liệu học tập của mình. Điểm thi do các thành viên Tiểu ban chấm thi thống nhất quyết định.

- Nội dung và cách thức chấm thi:

+ NCS dịch một đoạn tài liệu học tập (từ 1-2 trang) do Tiểu ban chấm thi chỉ định (ngẫu nhiên) ra tiếng Việt. Điểm tối đa của phần dịch này là 3/10 điểm.

+ NCS trình bày (diễn đạt nói) bằng ngoại ngữ một phần nội dung do Tiểu ban chấm thi chỉ định trong tài liệu học tập (trong 15 phút) bằng tiếng Việt là 6/10 điểm, cho phần trả lời câu hỏi của các thành viên trong Tiểu ban chấm thi là 4/10 điểm.

6. Kinh phí và tổ chức thực hiện

- Đơn vị đào tạo SĐH (trường và viện thành viên, khoa và trung tâm trực thuộc) chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo môn học Ngoại ngữ chuyên ngành cho NCS của đơn vị mình. Kinh phí đào tạo được lấy từ nguồn kinh phí đào tạo tiễn sĩ của đơn vị.

- Đối với năm 2006 (với những nghiên cứu sinh được công nhận từ 2004), môn học Ngoại ngữ chuyên ngành được bắt đầu từ ngày 01 tháng 12 năm 2006. Từ năm 2007 trở đi, kế hoạch tổ chức thực hiện môn học này do đơn vị đào tạo SĐH quy định.


  • i333