Đào tạo

Thông tin về luận án tiến sĩ của NCS Hà Thu Hường: Hòa nhập xã hội của phụ nữ Đông Nam Á di trú theo diện kết hôn quốc tế tại Hàn Quốc (nghiên cứu phụ nữ Việt Nam, so sánh với phụ nữ Philippines)

Thứ tư - 24/06/2026 03:29

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Hà Thu Hường             

2. Giới tính: Nữ

3. Ngày sinh: 07/12/1986                                          

4. Nơi sinh: Ninh Bình

5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh: số 4055/2022/QĐ-XHNV ngày 28/12/2022 của Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo: 

- Quyết định thay đổi cán bộ hướng dẫn luận án tiến sĩ số 869/QĐ-XHNV ngày 11/02/2025 của Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội

- Quyết định thay đổi/điều chỉnh tên đề tài luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh số 7144/QĐ-XHNV ngày 08/10/2025 của Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội

7. Tên đề tài luận án: Hòa nhập xã hội của phụ nữ Đông Nam Á di trú theo diện kết hôn quốc tế tại Hàn Quốc (nghiên cứu phụ nữ Việt Nam, so sánh với phụ nữ Philippines)

8. Chuyên ngành: Đông Nam Á học                                    9. Mã số: 9310608.02

9. Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Tuấn Anh, TS. Lê Thị Thu Giang

10. Tóm tắt các kết quả mới của luận án: 

          Luận án cho thấy phụ nữ Việt Nam di trú theo diện kết hôn tại Hàn Quốc có mức độ hòa nhập xã hội không đồng đều giữa các lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh tế, mức độ hòa nhập còn hạn chế, thể hiện qua thu nhập thấp, việc làm chủ yếu là lao động giản đơn và thiếu tính ổn định. Ở phương diện văn hóa, mức độ hòa nhập về lối sống và sinh hoạt tương đối cao, song năng lực ngôn ngữ chỉ đạt mức trung bình. Đáng chú ý, phụ nữ Việt Nam vẫn duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện sự linh hoạt trong thích nghi với văn hóa Hàn Quốc. Xét về quan hệ xã hội, họ có xu hướng thể hiện thái độ tích cực, với cảm nhận về sự hòa hợp và gắn bó lâu dài với xã hội sở tại. Trong lĩnh vực chính trị, mặc dù còn những hạn chế liên quan đến tình trạng quốc tịch, nhưng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội được đánh giá ở mức khá tốt. Tổng thể, dựa trên dữ liệu khảo sát và các nguồn dữ liệu thứ cấp, có thể khẳng định mức độ hòa nhập xã hội của nhóm phụ nữ này là tương đối khả quan.

Thứ hai, quá trình hòa nhập và thích nghi của phụ nữ Việt Nam di trú theo diện kết hôn tại Hàn Quốc diễn ra như một tiến trình liên tục, đa chiều và chịu sự chi phối phức hợp của nhiều yếu tố. Phân tích thống kê cho thấy vai trò của các nhóm yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội, tuy nhiên mức độ tác động của từng nhóm yếu tố đối với các chiều cạnh hòa nhập cụ thể là không đồng nhất. Đồng thời, các chiều cạnh của hòa nhập xã hội có mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau; sự cải thiện ở một lĩnh vực có thể tạo hiệu ứng lan tỏa, góp phần thúc đẩy mức độ hòa nhập ở các lĩnh vực khác.

Thứ ba, so sánh với trường hợp phụ nữ Philippines di trú theo diện kết hôn tại Hàn Quốc cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm. Cụ thể, phụ nữ Philippines có mức độ hòa nhập cao hơn trong lĩnh vực việc làm và tham gia chính trị. Tuy nhiên, ở các phương diện khác, đặc biệt là năng lực ngoại ngữ và quan hệ gia đình, họ lại thể hiện mức độ hòa nhập thấp hơn so với phụ nữ Việt Nam. Trên cơ sở bằng chứng thực nghiệm và phân tích so sánh, luận án tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố văn hóa và xã hội trong việc định hình và nâng đỡ trải nghiệm hòa nhập của phụ nữ di trú theo diện kết hôn trong bối cảnh Hàn Quốc đương đại.

12. Các hướng nghiên cứu tiếp theo:

Nghiên cứu về hòa nhập xã hội trong dòng chảy toàn cầu hóa hiện nay.

13. Các công trình công bố liên quan đến luận án:

- Ha Thu Huong (2024), “Overview of Korea's social integration policy for immigrants”; ISRG Journal of Arts, Humanities and Social Sciences Vol. II (III), DOI:10.5281/zenodo.12529397

- Ha Thu Huong (2024), “Migration trends of Southeast Asian women to Korea period 2009 – 2022”, ISRG Journal of Humanities and Cultural Sciences Vol. I (III), DOI: 10.5281/zenodo.12773192

- Hà Thu Hường (2024), “Tình hình nghiên cứu vấn đề phụ nữ Việt Nam di trú theo diện kết hôn tới Hàn Quốc từ 2009 - nay tại Việt Nam”, Tạp chí NC Hàn Quốc số 3 (50), tr.104-111

- Đỗ Phương Thùy, Hà Thu Hường (2025), “Vấn đề thích nghi văn hóa của người di trú tại Hàn Quốc: tập trung vào trường hợp của phụ nữ kết hôn di trú”, Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam quyển 29 (1), tr.41-50

- Ha Thu Huong (2025), “Social integration in the economic sector of Vietnamese women migrating to South Korea for marriage”, VNU Journal of Foreign Studies Vol. 41 (1S), tr.89-103

- Hà Thu Hường (2025), “Thích nghi ngôn ngữ của cô dâu Việt Nam di trú tại Hàn Quốc”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn tập 11 (2b), tr.300-316

INFORMATION ON DOCTORAL THESIS

1. Full name: Ha Thu Huong

2. Sex: Female

3. Date of birth: 07 December 1986

4. Place of birth: Ninh Binh

5. Amission decision number 4055/2022/QĐ-XHNV dated 28 December 2022 by VNU University of Social Sciences and Humanities

6. Changes in academic process

- Decision on the change of PhD academic supervisor: No. 869/QĐ-XHNV dated 11 February 2025 by VNU University of Social Sciences and Humanities

- Decision on the change/adjustment of the PhD thesis title: No. 7144/QĐ-XHNV dated 08 October 2025 by VNU University of Social Sciences and Humanities

7. Officical thesis titleSocial Integration of Southeast Asian Women Migrating through International Marriage to South Korea: A Study of Vietnamese Women with a Comparison to Filipino Women

8. MajorSoutheast Asian Studies                                         

9. Code9310608.02

10. SupervisorsProf. Dr. Nguyen Tuan Anh; Dr. Le Thi Thu Giang

11. Summary of the new findings of the thesis

The dissertation demonstrates that Vietnamese marriage migrants in South Korea exhibit uneven levels of social integration across different domains. In the economic domain, integration remains limited, as reflected in low income levels, predominantly manual labor, and unstable employment. In terms of culture, while integration into everyday lifestyles and practices is relatively high, language proficiency remains at a moderate level. Notably, Vietnamese women maintain their cultural identity while also demonstrating flexibility in adapting to Korean culture. With regard to social relations, they tend to express positive attitudes, characterized by a sense of harmony and long-term attachment to the host society. In the political domain, although constraints related to citizenship status persist, their access to social services is generally assessed as relatively good. Overall, based on survey data and secondary sources, it can be concluded that the level of social integration among this group is relatively favorable.

Second, the process of integration and adaptation among Vietnamese marriage migrants in South Korea unfolds as a continuous, multidimensional process shaped by a complex interplay of factors. Statistical analysis highlights the influence of individual, familial, and societal factors; however, the extent of their impact varies across specific dimensions of integration. Moreover, different dimensions of social integration are closely interrelated, such that improvement in one domain may generate spillover effects that facilitate integration in other domains.

Third, a comparison with Filipino marriage migrants in South Korea reveals notable differences between the two groups. Specifically, Filipino women demonstrate higher levels of integration in employment and political participation. However, in other domains - particularly language proficiency and family relations - they exhibit lower levels of integration compared to their Vietnamese counterparts. Based on empirical evidence and comparative analysis, the dissertation further underscores the significant role of cultural and social factors in shaping and supporting the integration experiences of marriage migrants in contemporary South Korea.

12. Futher research directions

Research on social integration in the context of contemporary globalization 

13. Thesis-related publications

- Ha Thu Huong (2024), “Overview of Korea's social integration policy for immigrants”; ISRG Journal of Arts, Humanities and Social Sciences Vol. II (III), DOI:10.5281/zenodo.12529397

- Ha Thu Huong (2024), “Migration trends of Southeast Asian women to Korea period 2009 – 2022”, ISRG Journal of Humanities and Cultural Sciences Vol. I (III), DOI: 10.5281/zenodo.12773192

- Ha Thu Huong (2024), “Research on Vietnamese Marriage Migration to South Korea in Vietnam from 2009 to the Present,” Korean Studies Review, No. 3 (50), pp. 104–111.

- Do Phuong Thuy, Ha Thu Huong (2025), “Cultural Adaptation of Migrants in South Korea: Focusing on the Case of Marriage Migrant Women” Vietnam Women Academy’s Journal of Science, Vol. 29 (1), pp. 41–50;

- Ha Thu Huong (2025), “Social integration in the economic sector of Vietnamese women migrating to South Korea for marriage”, VNU Journal of Foreign Studies, Vol. 41 (1S), pp.89-103

- Ha Thu Huong (2025), “Linguistic Adaptation of Vietnamese Marriage Migrants in South Korea” VNU Journal of Social Sciences and Humanities, Vol. 11 (2b), pp. 300–316.

Tác giả: Phòng ĐT&CTNH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây