Tin tức

阮天甲教授,人民教师,荣获2010年国家奖。

2012年2月28日,星期二,上午10:40
阮文康教授(语言学研究所)分析并肯定了阮天甲教授在语言学研究领域做出的科学贡献,他所著的一系列著作荣获了2010年国家科学技术奖,包括《越南语词汇学》(1985年)和《越南语词汇与词语识别》(1996年)。
GS.NGND Nguyễn Thiện Giáp với Giải thưởng Nhà nước 2010
阮天甲教授,人民教师,荣获2010年国家奖。
阮文康教授(语言学研究所)分析并肯定了阮天甲教授在语言学研究领域做出的科学贡献,他所著的一系列著作荣获了2010年国家科学技术奖,包括《越南语词汇学》(1985年)和《越南语词汇与词语识别》(1996年)。 就像建造房屋所用的材料(砖块是传统材料)一样,语言也是必不可少的。从以及等效单位,例如从(就像盖房子需要材料一样)。因此,从 là sự tồn tại tất nhiên trong hệ thống ngôn ngữ và nghiên cứu về 从 trở thành một trọng tâm của ngôn ngữ học. Cách hình dung đơn giản như vậy cũng là để muốn nói rằng, 从 là một vấn đề vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại của khoa học ngôn ngữ. 从 trở thành một nội dung không thể thiếu của ngôn ngữ học đại cương với hàng ngàn định nghĩa được đúc rút từ những nghiên cứu cụ thể về 从 ở từng ngôn ngữ và trên cơ sở đó, nó lại được áp dụng, triển khai nghiên cứu rộng rãi, liên tục ở mọi ngôn ngữ. Ở Việt Nam, nghiên cứu về 从 có cả một bề dày. Nhất là khi vấn đề 来自越南 trở thành nội dung nghiên cứu ở cả ngữ pháp (từ pháp) lẫn từ vựng. GS Nguyễn Thiện Giáp, sau khi tốt nghiệp chuyên ngành ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, đã nhanh chóng xếp vào hàng nghiên cứu từ vựng. Ông vào hàng nghiên cứu từ vựng tiếng Việt khi đứng trước ông có rất nhiều người nghiên cứu về từ vựng, trong đó có cả những nhà Việt ngữ học thành danh với các công trình nghiên cứu, bài viết sâu về từ tiếng Việt. Ông đứng vào hàng nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong bối cảnh ngôn ngữ học Việt Nam đang ở cao trào của nghiên cứu cấu trúc luận và 来自越南 trở thành một nội dung khoa học trung tâm của Việt ngữ học ở cả hai bình diện là bình diện ngữ pháp học tiếng Việt và từ vựng học tiếng Việt.

Xung quanh vấn đề 来自越南, câu hỏi luôn được đặt ra là: từ tiếng Việt là gì (thế nào là từ tiếng Việt) và cái gì đích thực là từ tiếng Việt (bản chất của từ tiếng Việt). Nếu coi “âm tiết tính” là đặc điểm cơ bản, mang tính bản chất của tiếng Việt thì vấn đề từ tiếng Việt cần được giải quyết như thế nào trong mối quan hệ với đặc điểm đơn âm tiết này? GS Nguyễn Thiện Giáp đi theo hướng mà trước đó tuy đã có người đề cập nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu hoặc không triệt để, đó là: 越南语单词的语音形式以音节的形式呈现。如果我们把语素视为语言的意义单位,那么越南语单词也与音节相对应。他严格遵循这一观点,认为在越南语中,除了“词”这个基本词汇单位外,还有另一个词汇单位叫做“短语”。短语是越南语中已存在的词语,其含义与单个词语相同。他对“语言”的概念解释如下:与自由短语不同,表达方式(复合词、重复词、主格短语、习语)在其组成部分之间的关​​系中都具有句法属性。概念非句法据他所说,并非没有句法关系,而是句法关系偏离了现代越南语的正常句法模式。根据他的解释,越南语由“词、短语和句子”构成,因此,语素、简单词、复合词、派生词等概念(如果存在的话)也必须通过这三个基本概念来解释。这与……的概念相比语言他提出了这个概念短语他认为,印欧语系语言中的词汇并非完全相同:从语义上讲,越南语中的词汇相当于印欧语系语言中的派生词、复合词和固定短语。至此,尽管他做了进一步的解释,但他所追求的核心概念——或者更准确地说,是他彻底实践的核心概念——显然是“每个音节都是一个词”。简单词、复杂词、复合词、叠词他用越南语翻译的语言对……的看法从和语言阮天甲教授的《越南语》一书出版之时,《语言》杂志正就……展开一场热烈而持久的辩论。声音,词语和词素他用越南语排队,轮到他登记并向语言学界展示他的博士论文(现在是博士学位):问题在于如何界定越南语中通常被称为“词”的单位的边界。(1983年)。我也参加了那次答辩,至今仍清晰地记得,当有人对他的论文提出异议时,现场气氛“紧张而激烈”。幸运的是,阮泰干教授——一位学识渊博、生活阅历丰富的学者——发表了一番讲话,逐渐缓和了会场的紧张气氛。他表示,提出的问题非常好,他们应该完善自己的理论和知识,以便在《语言》期刊上继续讨论,这也是学校的规定……(当时语言学领域只有《语言》这一份期刊)。这可以理解,因为他在论文中深入阐述的观点似乎与当时(甚至现在)越南语的主流观点有些格格不入:当时的主流观点认为越南语词汇由简单词、复合词和叠词构成。但当时的情况与现在不同。那是计划经济时代(也称中央计划经济),所有思维方式都遵循着标准化的模式。语言学研究也不例外。例如,越南语的标准化必须遵循规范性方法,这意味着必须遵循预先设定的框架。如果某个词语的用法或表达方式(现在称为变体)不符合该框架的规定,就会被认为是错误的、不符合规范的。在科学研究中,与一些知名人士的主流观点相悖是一项重大的风险。我提及这一点,不仅是为了强调阮天甲教授严谨的逻辑思维和对越南语的细致研究,也是为了展现他卓越的科学才能。他在科学辩论中言辞沉稳,举止温和而内敛,但其背后却蕴藏着坚定的决心……这种决心凭借他的勤奋、创造力、智慧和热情而极具说服力。我越来越意识到,他所表达的观点并非仅仅关乎术语或某个单位的“座位安排”。如果仅仅是一种形式上的安排,又有什么意义呢?例如,有些文章仅仅关注形式,却在如何处理某些情况时感到困惑。鄙视在越南语中,那就是鄙视这个词是从汉语(汉越语)借用的,在越南语中有两个含义:指“光”,鄙视它只能用作构词元素。热气球);意思是“忽视”,鄙视用作词(我鄙视那些卑躬屈膝的人。)既是构词成分(轻蔑,鄙夷,鄙视)为了应对诸如以下现象:鄙视另一篇文章已经得出结论。鄙视 trong tiếng Việt “lúc là từ, lúc không phải là từ”. Thực ra không có gì đáng phàn nàn về kết luận này, bởi ngữ pháp học thời đó chủ yếu xuất phát từ hình thức - cấu trúc mà chưa có sự kết hợp nghiên cứu ngữ pháp-ngữ nghĩa. Mà đâu chỉ có bên chúng ta, ngay cả những nhà ngôn ngữ học hàng đầu thế giới như J.Layons cũng đã từng có ý kiến đại ý rằng, hãy xem 从 cũng như 句子 là những đơn vị “mặc định” để làm việc (để khỏi phải “mất công” tranh luận). GS Nguyễn Thiện Giáp trong nghiên cứu từ tiếng Việt đã hướng tới những vấn đề xa hơn, rộng hơn, mang tầm lí thuyết. Điều này được thế hiện ở những nghiên cứu tiếp theo của ông khi ông vận dụng lí thuyết tâm-biên của ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu vấn đề từ tiếng Việt. Ông cho rằng, với giải pháp về quan niệm từ tiếng Việt như vậy phù hợp với lí thuyết của ngôn ngữ đại cương, phù hợp với truyền thống Đông phương học, phù hợp với ngữ văn học Việt Nam và đặc điểm của tiếng Việt. Cũng theo ông, với cách quan niệm về 语言 như vậy, ngữ pháp học tiếng Việt sẽ có cơ sở để nghiên cứu các nội dung liên quan ngoài từ vựng. Chẳng hạn, liệu có còn hay cần phân biệt giữa hình thái học và cú pháp học trong tiếng Việt như ngôn ngữ học đại cương đã làm?,… Cũng cần phải nói thêm rằng, tuy đến nay, quan điểm từ trùng với âm tiết mà ông là nguời theo đuổi cũng vẫn chỉ là một trong những quan điểm về từ tiếng Việt, nhưng công lao của ông chính là đã triệt để đi theo quan điểm đó bằng sự nghiên cứu thực tế tiếng Việt một cách hệ thống và sâu sắc.

Nếu trong khoa học tự nhiên có thần đồng thì khoa học xã hội khó có thể. Câu này đúng với GS Nguyễn Thiện Giáp. Không ỷ vào sự thông minh, GS Nguyễn Thiện Giáp thành công được như ngày hôm nay là nhờ vào sự cần mẫn “con ong chăm chỉ” của ông. Ông dạy học và nghiên cứu, viết sách. Dạy giúp cho ông “áp dụng, kiểm tra” kiến thức thực tế của mình, đọc sách giúp cho ông bổ sung kiến thức và viết sách là sự thể hiện trí tuệ của ông. Nhờ đó, cùng với các công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt được tái bản nhiều lần và mỗi lần là một sự cập nhật kiến thức mới, tư liệu thực tế mới của tiếng Việt, ông còn có các công trình khác như 越南语研究 (2000), 越南语言学简史 (tập 1, 2005; tập 2, 2007; chủ biên), 语言学研究方法 (2005), 语言学教科书 (2008), 777个语言学概念 (2010; giải thưởng Đại học quốc gia Hà Nội). Sách xuất bản nhiều, “đào lí mãn thiên hạ” (học trò khắp nơi) nhưng GS Nguyễn Thiện Giáp vẫn một lối sống giản dị, quen thuộc của một nhà giáo mà chỉ có những nguời như ông mới duy trì được, đó là một vòng tròn khép kín: dạy học, đọc sách và viết sách. Xin chúc mừng Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thiện Giáp được nhận giải thưởng nhà nước về khoa học công nghệ 2010 (tổ chức 5 năm xét một lần) cho hai công trình về từ tiếng Việt. Ngành ngôn ngữ học Việt Nam có thêm những đóng góp mới từ nơi ông. Đồng nghiệp chia vui với thành tích của ông. Các thế hệ sinh viên của ông tự hào về người thầy của mình. Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và Khoa Ngữ văn của Trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học của Trường vui mừng và tự hào có những nhà giáo như GS.TS Nguyễn Thiện Giáp.

作者:查看

 标签:消息,学术空间

本文总评分为:0 分(满分 5 分)

点击为文章评分
您尚未访问过该网站。点击此处保持登录状态。等待时间: 60 第二