2008년 8월 28일, 아시아태평양연구센터(사회과학인문대학교)에서 학술대회를 개최했습니다.베트남과 동남아시아의 몬-크메르족: 언어와 문화이번 워크숍은 베트남 국립대학교 하노이 캠퍼스 아시아 연구 지원 센터의 후원으로 개최되었습니다. 고고학, 역사학, 언어학, 문화 및 사회 인류학 분야의 국내외 과학자 50여 명이 워크숍에 참여했습니다.
2008년 8월 28일, 아시아태평양연구센터(사회과학인문대학교)에서 학술대회를 개최했습니다.베트남과 동남아시아의 몬-크메르족: 언어와 문화이번 워크숍은 베트남 국립대학교 하노이 캠퍼스 아시아 연구 지원 센터의 후원으로 개최되었습니다. 고고학, 역사학, 언어학, 문화 및 사회 인류학 분야의 국내외 과학자 50여 명이 워크숍에 참여했습니다.
Hội thảo họp hai phiên với hai chủ đề chính: Ngôn ngữ và Lịch sử; Văn hoá và Phát triển.
[img class="caption" src="images/stories/2008/8/29/img_5255.jpg" border="0" alt="루옹 닌 교수(왼쪽)와 응우옌 반 로이 교수(오른쪽)" title="루옹 닌 교수(왼쪽)와 응우옌 반 로이 교수(오른쪽)" width="220" height="147" align="left" ]Liên quan đến lịch sử của các cư dân Môn Khmer ở Việt Nam, Giáo sư Lương Ninh đã trình bày tham luận Người Việt, tộc Việt và tiếng Việt, trong đó nhấn mạnh luận điểm cho rằng tộc Việt và tiếng Việt được phát triển trên cơ sở của một lớp cư dân nói tiếng Môn cổ sinh sống ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và Bắc Việt Nam từ thời văn hoá Hoà Bình. Các ý kiến phản biện cho rằng đây là một giả thiết khoa học cần được làm sáng tỏ cả về mặt lí luận và tư liệu. Vấn đề mấu chốt là có hay không mối liên hệ về mặt nhân chủng, văn hoá khảo cổ và ngôn ngữ với một tộc người nhất định và sự phát triển liên tục của chúng trong quá trình hình thành tộc người hiện đại.
[img class="caption" src="images/stories/2008/8/29/img_5239.jpg" border="0" alt="트란 트리 도이 교수" title="트란 트리 도이 교수" width="220" height="160" align="right" ]Cũng bàn về chủ đề lịch sử nhưng từ góc độ ngôn ngữ học, tham luận của GS. Trần Trí Dõi về mối quan hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á (Austroasiatic) và Nam Đảo (Austronesian) đưa ra một luận điểm mới cho rằng hai ngôn ngữ này không có quan hệ thân thuộc mà chỉ là các quan hệ vay mượn (đặc biệt) không có hệ thống. Cơ sở của luận điểm này được phân tích từ các cứ liệu so sánh ngôn ngữ học lịch sử. Tuy nhiên các ý kiến phản biện cho rằng cứ liệu để phát triển luận điểm này chủ yếu mới dựa vào hai nhóm từ chỉ đất đá và tự nhiên. Cần thu thập thêm cứ liệu từ các nhóm loại từ khác để so sánh thì luận điểm khoa học này sẽ thuyết phục hơn.
Tham luận của GS. Nguyễn Văn Lợi và ông Đỗ Quang Sơn về ngôn ngữ của người Mảng và người Kháng được cho là công phu và có ý nghĩa tích cực trong việc tìm hiểu vai trò của các ngôn ngữ nói trên trong hệ thống các ngôn ngữ Môn Khmer ở Việt Nam và Đông Nam Á. Điều này còn có ý nghĩa ở chỗ cả hai tộc người Mảng và Kháng đều rất nhỏ về dân số, sống biệt lập ở vùng sâu núi cao và ngôn ngữ của họ có nguy cơ biến mất.
Về chủ đề văn hoá xã hội và phát triển của các cư dân Môn Khmer, có ba tham luận do các PGS. Vatthana Pholsena, Hoàng Lương và Nguyễn Văn Chính trình bày. Tham luận của PGS. Vatthana tập trung phân tích những năng động dân số học xuyên biên giới của các nhóm tộc người Bru-Vân Kiều, Ma Cong, Trĩ và Pakoh ở khu vực Sepon (Lào) và Quảng Trị (Việt Nam). Giải thích về tình hình trao đổi và dịch chuyển xuyên biên giới của các nhóm cư dân này, tác giả cho rằng ngoài yếu tố lịch sử, quan hệ tộc người và chính sách dân tộc ở hai quốc gia là những nhân tố tham gia trực tiếp vào dòng chảy của dân cư thuộc cùng một tộc người ở hai bên đường biên giới.
PGS. Hoàng Lương trình bày phát hiện mới của ông về quan hệ giữa hai nhóm Thái đen và Khmu ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các bản phả hệ kết hợp với tư liệu từ các nguồn sử thi của người Thái đen Tây Bắc, ông cho rằng thực ra hai nhóm này đã có quan hệ hỗn huyết thông qua hôn nhân từ xa xưa trong lịch sử. Việc quý tộc Thái sau này nhìn nhận người Khmu và các nhóm Môn Khmer khác với thân phận thấp hơn mình có lẽ xuất phát từ tư tưởng tự tôn vinh thường thấy ở tầng lớp thống trị. Các ý kiến nêu ra tại hội thảo cho rằng các bản phả hệ phải được phân tích so sánh kết hợp với các nguồn tài liệu khác. Hơn nữa, quan hệ hỗn huyết Khmu – Thái như các phả hệ đã chỉ ra không phản ánh quan hệ Thái – Khmu với tư cách là hai tộc người, mà chỉ là trường hợp của một nhóm Thái Đen Tây Bắc mà thôi.
[img class="caption" src="images/stories/2008/8/29/img_5211.jpg" border="0" alt="응우옌 반 찐 부교수" title="응우옌 반 찐 부교수" width="147" height="220" align="right" ]응우옌 반 찐 부교수는 이번 학술대회에서 베트남 북부 산악 지역 크무족에 대한 재정착 정책의 영향에 대한 새로운 분석 결과를 발표했습니다. 이 보고서는 디엔비엔성과 응에안성의 크무족 마을 5곳에서 지난 3년간 수행한 연구와 태국, 라오스, 그리고 중국 윈난성 멩라 지역의 크무족 공동체에 대한 민족지학적 관찰을 바탕으로 작성되었습니다. 응우옌 부교수는 C. 키스와 O. 살레밍크 등 일부 외국 학자들이 베트남 정부의 재정착 정책을 단순히 민족 동화의 한 형태로 보는 주장을 반박하며, 산악 지역의 국가 개발 프로그램은 자급자족적이고 사회에 통합되지 않은 공동체의 생활 여건 개선을 목표로 하는 매우 인도적인 성격을 띤다고 주장했습니다. 그러나 편향되고 일방적인 관점으로 인해 정책 시행 과정에서 의도치 않은 결과가 발생할 수 있다고 지적했습니다. 특히 삼림 기반 농업과 화전 농업에만 익숙한 소수 민족이 거주하는 산악 지역의 벼농사 개발 전략에 대해서는 더욱 심층적인 고찰이 필요하다고 강조했습니다. 상당한 자본과 인적 자원 투자가 필요할 뿐만 아니라, 이러한 소수민족 집단이 가진 고유한 강점과 수천 년에 걸쳐 축적된 토착 지식을 활용할 수 있는 잠재력을 간과하고 있습니다. 또한, 규모가 작고 고립된 소수민족 집단에게 새로운 경제 및 기술 모델에 적응하는 것은 쉽지 않습니다. 참여자들의 의견에 따르면, 베트남 산악 지역에서 화전 농업 전통을 가진 소수민족 집단을 위한 개발 프로그램에 대한 실질적인 해결책을 모색하는 분석 도구를 개발한다면 연구가 더욱 포괄적일 수 있을 것입니다.
이번 학술대회에 참석한 과학자들 사이에서는 대체로 매우 실용적인 과학 토론이었다는 공감대가 형성되었습니다. 몬크메르족에 관심을 가진 학자들이 한자리에 모여 과학적, 실용적 중요성을 지닌 문제들을 논의한 것은 이번이 처음이었습니다. 더욱이, 이번 학술대회는 학문적 엄격성과 비판적 사고를 강조함으로써 학술대회 운영 방식에 혁신을 가져왔습니다. 다른 학술대회에서 흔히 볼 수 있는 형식적이고 의례적인 측면이 배제되었기 때문입니다.
본 학회에서 발표된 논문들은 이 섹션에 순차적으로 게재될 예정입니다.학술 공간이 웹사이트의.
•협회 Nguyen Van Chinh 교수
아시아태평양연구센터 (베트남 국립대학교 사회과학 및 인문학부, 하노이)
작가:아이333
최신 뉴스
이전 뉴스