目前,南海问题引起了学术界和公众的广泛关注。有人认为,南海研究的第一步是明确研究目标。那么,您认为我们在南海研究方面的目标是什么?
不知何故,我们长期以来过分强调农业、农民和农村这三个特征,却忘记了越南是一个海洋国家。直到最近,主权问题变得非常紧迫,我们才开始更加关注海洋,并宣布越南是一个海洋国家。显然,我们拥有超过3000公里的海岸线,但我们却背弃了海洋。说到出海的心态,坦白说,出海的画面让我深思。从竹筏、草垛船,甚至是政府投资扶持民众建造的铁船来看,它们都毫无用处,注定会沉没。看看我们渔民在海上的渔船吧;中国船只即使高速航行,也已经淹没了我们的渔船,更不用说它们与我们相撞的可能性了。
因此,我们研究南海的最大目标是全面、系统、跨学科地了解南海,因为它不仅关乎主权争端,也关乎生存空间。从地缘战略角度来看,越南已无法再向北或向西扩张,只能进军太空或出海。然而,进军太空受限于资源有限,三角洲地区也已遭到过度开发。因此,我们必须向海域进军。
我们还必须摒弃在缺乏科学知识的情况下开发资源和过度依赖自然资源的思维方式,因为这将导致非常严重的后果。
为了实现上述研究目标,您认为最重要的因素是什么?
首先,我们需要统一的自上而下的指导以及结构完善的战略。目前,我们有六七个研究中心和研究所专注于南海问题,但只有南海研究支持基金和南海研究所(隶属于越南外交学院)得到了外交部——国家代表——的官方支持。其他所有努力都只是科研机构和教学机构的主动举措。因此,国家似乎倾向于将此事交由外交部门处理。或许国家是想将研究集中到一个机构下,以便于管理?我认为,理想情况下,应该在南海北部、中部和南部地区设立多个研究中心。而且,由于这是一个科学问题,它应该由科技部负责,而不是仅仅由一个政治导向的研究中心主导。
迄今为止,政府尚未就广泛鼓励和支持研究人员发出明确信号。例如,国家科学技术发展基金会(Nafosted Foundation)尚未资助任何南海研究项目。即使在教育阶段,大学也尚未鼓励研究生将研究重点放在这一问题上。
Thực trạng đó có thể vì không có chủ trương chính sách, hai là không có nguồn lực, hoặc thứ ba là, họ nghĩ rằng có thể chủ đề này hơi “độc quyền” của ngành ngoại giao. Ví dụ: việc tổ chức hội thảo Biển Đông ở cấp quốc gia chỉ giao cho Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia thôi. Khi Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo về Biển Đông thì phải xin phép tất cả các bộ liên quan và cuối cùng là Văn phòng Chính phủ mới được tổ chức. Ngoài ra, các học giả quốc tế cũng nói rằng quy mô lớn của hội thảo quốc tế do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức khiến họ rất khó thảo luận sâu.
Vậy theo ông phải làm sao để khuyến khích tự do học thuật trong nghiên cứu về biển Đông?
Phải đa dạng hóa học thuật và học thuật hóa vấn đề Biển Đông. Giờ đây vấn đề quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại cần phải có sự tham gia của nhiều chủ thể, không chỉ có một chủ thể là Bộ Ngoại giao, mà cần có cả các cơ quan học thuật. Nhưng ở nước ta chưa khuyến khích các tổ chức học thuật độc lập (think tank) mà đây là mô hình rất phổ biến ở Mỹ, Úc và các nước phát triển.
Nếu trong chính sách đối ngoại mình đã đa dạng hóa, thì nay đối thoại về Biển Đông mình cũng phải đa dạng hóa, và ngay cả người dân cũng phải tham gia. Cần tăng cường năng lực cho người dân, cả về kiến thức kỹ thuật tàu thuyền cũng như kiến thức pháp lý, để họ cùng nhà nước bảo vệ chủ quyền. Một khi người dân hiểu biết pháp luật hơn thì chủ quyền cũng được bảo vệ tốt hơn. Tranh chấp biên giới, tranh chấp chủ quyền có được giải quyết, được giữ là nhờ người dân, chứ không phải chỉ nhờ vào cảnh sát biển và các lực lượng chấp pháp. Có thể thấy ngư dân của ta vẫn còn thiếu kiến thức và vẫn vướng mắc pháp lý với nước ngoài khi đánh cá trên biển. Ví dụ vừa qua Thái Lan bắt bốn tàu cá của ngư dân ta, rồi Indonesia cũng nhiều lần bắt tàu cá của Việt Nam vì người dân không hiểu các vùng biển nào của ta, của họ, họ đâu biết rõ ràng là 12 hải lý với 200 hải lý.
Một số ý kiến cho rằng, thay vì tập trung vào nghiên cứu cơ bản như khảo cổ học, lịch sử để chứng minh chủ quyền trong lịch sử ở Biển Đông, nên ưu tiên các nghiên cứu pháp lý nhằm tham gia và “giành lợi thế” trong các thảo luận về tranh chấp trên Biển Đông. Ông có nhận định gì về quan điểm này?
Tôi nghĩ rằng cả hai cách tiếp cận đều rất quan trọng. Hướng thứ nhất do các nhà luật học, nghiên cứu quan hệ quốc tế tập trung nghiên cứu về luật pháp quốc tế nhằm xác định vấn đề chủ quyền, quyền tài phán. Hướng thứ hai cố gắng đi tìm và chứng minh chủ quyền trong lịch sử do các nhà lịch sử, văn hóa phát triển. Từ trước đến nay có lẽ Việt Nam đã tiếp cận nhiều ở hướng thứ hai, tức là chủ quyền trong lịch sử, văn hóa.
Tôi khẳng định là phải kết hợp hai xu hướng này trong nghiên cứu về Biển Đông để có tiếp cận liên ngành. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi nói tới chủ quyền, thì đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế là tiếng nói có trọng lượng hơn, trừ trường hợp chúng ta có bằng chứng lịch sử không thể chối cãi được. Chúng ta có thể thấy qua phán quyết PCA vừa rồi, các bằng chứng lịch sử không có tác động quyết định tới Tòa trọng tài thường trực trong việc đưa ra các phán quyết chủ quyền đối với các vùng tranh chấp. Tòa trọng tài thường trực yêu cầu, nếu muốn chứng minh chủ quyền với một vùng biển, đảo thì nước đó phải có một quá trình chiếm giữ hoà bình và khai thác liên tục, còn các bằng chứng sử học nói rằng một quốc gia phát hiện ra một vùng biển, đảo từ cách đây 2000 năm nhưng không chiếm giữ liên tục không được coi là chủ quyền. Ví dụ: Trung Quốc đã lập luận rằng công ước Liên Hợp Quốc về biển 1982 ra đời sau còn họ đã có chủ quyền với vùng nước đó từ vài nghìn năm trước nhưng Tòa trọng tài thường trực cũng bác bỏ các căn cứ lịch sử này.
Theo ông, chúng ta cần có những giải pháp gì để sớm có được một đội ngũ nhà nghiên cứu đáp ứng được các mục tiêu nghiên cứu về Biển Đông?
Đúng là chúng ta đang rất thiếu chuyên gia về Biển Đông. Vì vậy, cấp thiết phải tổ chức tốt việc đào tạo. Phải đưa ngay vào giảng dạy với dung lượng phù hợp trong sách giáo khoa lịch sử bậc phổ thông. Sau đó tiếp tục đào tạo bài bản, chuyên sâu, mang tính hệ thống và khách quan ở các bậc cử nhân, sau đại học. Nên có định hướng để có một tỉ lệ nhất định sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh nghiên cứu về vấn đề này. Ngoài ra, việc xây dựng một số trung tâm, viện ở các trường đại học hoặc các cơ quan hữu quan (trực thuộc các đại học chuyên ngành, đại học vùng, những nơi gần biển) cũng rất cần thiết. Điều mà Nhà nước có thể làm được là phân bổ nguồn ngân sách từ đề án 911, hoặc quỹ Nafosted hoặc nguồn riêng cho nghiên cứu Biển Đông, để các nghiên cứu sinh du học, các nhà nghiên cứu tham gia các hội thảo, toạ đàm khoa học, khóa học ngắn hạn, học hậu tiến sĩ… Đặc biệt là phải thu hút các chuyên gia nước ngoài về làm việc ở các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học. Cần tạo ra mạng lưới kết nối trong và ngoài nước giữa học giả Việt Nam và quốc tế trong nghiên cứu về Biển Đông, đặc biệt là kết nối các nghiên cứu liên ngành liên quan đến Biển Đông.
Xin cảm ơn ông!
来源: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=9933
作者:由秋琼演唱。
最新消息
旧新闻