통계에 따르면 2013-2014학년도에 전국 85개 대학에서 베트남어학과에 6,000명 이상의 정원을 배정했으며, 이 중 대학 정원은 3,000명, 전문대학 정원은 3,000명이었습니다. 학교와 정원은 북부와 남부에 고르게 분포되어 있으며, 북부에는 43개 학교(3,000명), 남부에는 42개 학교(3,000명)가 있습니다. 정원 규모로 보면 북부에서는 하노이 산업대학교가 330명으로 가장 많았고, 남부에서는 호치민시 문화대학교가 330명으로 가장 많았습니다. 나머지 학교 중 절반은 연간 80~150명, 나머지 절반은 30~60명의 정원을 배정했습니다. 정원이 가장 적은 학교는 옌바이 문화예술관광대학으로 연간 25명이었습니다.
베트남어학과의 교육 역사를 살펴보면, 최초로 베트남어학과를 개설한 대학은 달랏대학교로, 1994년부터 현재까지 19기 졸업생을 배출하며 수천 명의 졸업생을 거느리고 있습니다. 가장 최근에는 2009년부터 사회과학인문대학교(베트남 국립대학교, 하노이)에서 학부 과정으로 베트남어학과를 개설하여 베트남 학생들을 위한 A전공과 외국 학생들을 위한 B전공, 이렇게 두 가지 전공 과정을 제공하고 있습니다. 현재 베트남 학생과 외국 학생 모두에게 베트남어학과를 제공하는 몇 안 되는 교육기관 중 하나입니다.
그러나 현재 베트남학 교육은 다음과 같은 여러 가지 문제에 직면해 있습니다. 교육 기관들이 베트남학의 연구 목표와 교육 요건을 제대로 파악하지 못하고 있다는 점, 엄격한 품질 관리가 부족하다는 점, 교육이 해당 분야의 실질적인 발전 요구에 진정으로 부응하지 못하고 있다는 점, 많은 학교들이 명확한 교육 목표를 제시하지 못하고 있다는 점, 교수진 자원이 부족하다는 점, 교육을 뒷받침하는 연구가 부족하다는 점, 그리고 국제 교류 기회가 제한적이라는 점 등이 그것입니다.
Theo GS.TS Đinh Văn Đức (nguyên Chủ nhiệm Khoa Tiếng Việt, nay là Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN), việc mở ngành đào tạo Việt Nam học ở nước ta bắt đầu một cách ngẫu hứng và khá tự phát, khiến “Việt Nam học nội địa” manh mún và gặp nhiều khó khăn theo hiểu “ai hiểu kiểu gì thì làm kiểu ấy” dù cũng có chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi cơ sở đào tạo đã tự định vị chương trình theo chủ quan của mình, nhiều khi rất duy ý chí. Về mục tiêu đào tạo, hầu hết các trường tuy ngoài mặt là đào tạo Việt Nam học nhưng thực chất là đào tạo theo hướng các chuyên ngành: Hướng dẫn viên du lịch, Văn hoá – Du lịch hay chuyên ngành Du lịch học, Văn hoá dân tộc.
Cũng chia sẻ quan điểm trên, PGS.TS Lê Quang Hưng (Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) cho rằng, chương trình đào tạo Việt Nam học ở các trường đại học và cao đẳng hiện đang “lệch” nhau không ít. Thực tế ấy có nguyên nhân là xuất phát điểm xây dựng ngành đào tạo này rất khác nhau ở các trường. Phần lớn cơ sở đào tạo Việt Nam học xây dựng chương trình đào tạo từ một ngành gốc nào đó của mình và dựa vào lực lượng cán bộ chuyên môn vốn có. Bên cạnh đó, việc xây dựng chương trình học thường được dựa trên nhu cầu việc làm, tức “đầu ra” ở từng địa phương.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN) thì nhấn mạnh rằng, nhiều cơ sở đào tạo không hề có nghiên cứu, đào tạo gì về KHXH&NV cả mà vẫn đào tạo Việt Nam học. Ông cho rằng con số hơn 80 trường cao đẳng và đại học đang đào tạo Việt Nam học là đáng … báo động, vì nó không phản ánh sự phát triển của ngành học này mà phản ánh sự “biến dạng” ngành Việt Nam học. Có những cơ sở đào tạo ghi trên văn bằng tốt nghiệp là cử nhân Việt Nam học nhưng thực chất là đào tạo người làm du lịch phục vụ nhu cầu địa phương và xã hội do ngành Du lịch học hiện chưa có mã ngành đào tạo chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo PGS.TS Trần Lê Bảo (Khoa Việt Nam học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội), hiện tượng trên xuất phát từ sự phát triển “nóng” của Việt Nam học đã dẫn đến cái nhìn chưa đúng về khoa học này. Trong thực tiễn, nhận thức về Việt Nam học có sự đa dạng và phức tạp. Về phía chủ quan phải kể đến những nhận thức khác nhau, quan niệm khác nhau của người soạn thảo đề án mở mã ngành Việt Nam học tại cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hơn nữa, những người mở mã ngành lại không “sinh ra” từ ngành Việt Nam học mà thường từ các chuyên ngành hẹp khác chuyển sang nghiên cứu Việt Nam học nên quan niệm về Việt Nam học khác nhau và có những hạn chế.
Để giải quyết tình trạng trên, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học về Khoa học Phát triển. ĐHQGHN) cho rằng nhất thiết phải bắt đầu từ việc hiểu đúng về khái niệm Việt Nam học và quá trình vận động phát triển của bản thân ngành khoa học này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Trên thực tế, tất cả các ngành khoa học nghiên cứu về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam để tìm ra các giá trị đặc trưng của Việt Nam đều thuộc địa hạt Việt Nam học. Việt Nam học theo quy luật phát triển của nó đều bắt đầu từ các chuyên ngành cụ thể như: lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế, xã hội… Các khoa học chuyên ngành ngày càng phát triển tạo ra những thế mạnh trong nhận thức nhưng cũng làm xuất hiện những hạn chế, vì khi nghiên cứu quá sâu, quá kỹ thì cái nhìn tổng thế lại yếu. Trên cái nền tảng về khoa học chuyên ngành đó, dần dần do nhu cầu của nhận thức một cách đầy đủ và tổng thể nên các khoa học chuyên ngành có xu hướng liên kết trở lại. Các nghiên cứu tổng thể và liên ngành đã trở thành nhu cầu bức thiết, vì thế Việt Nam học chuyển dần từ Việt Nam học chuyên ngành sang Việt Nam học liên ngành. Do đó, Việt Nam học hiện nay phải được coi là khoa học liên ngành, trên cơ sở tích hợp, liên kết các khoa học chuyên ngành lại để tìm ra những giá trị nhận thức chung, những giá trị đặc trưng chung của văn hoá, xã hội.
베트남학에 대한 개념을 제대로 이해한다면, 베트남학은 연구 주제와 연구 방법을 정확하게 규정할 수 있을 것입니다. 대학들은 각 기관의 특성과 정체성을 고려하여 해당 분야에 맞는 교육 목표를 설정할 수 있을 것입니다. 이를 바탕으로 교육훈련부와 같은 정부 기관은 베트남학 분야의 인재 양성 역량이 부족한 기관들을 정비하는 등 필요한 조정을 할 수 있을 것입니다.
하노이 사범대학교의 레꽝흥 부교수는 베트남학의 두드러진 특징 중 하나로 '학제적' 성격을 강조하며, 학제적 연구는 단순히 베트남과 베트남인의 다양한 측면을 가르치는 것에 그치지 않는다고 주장합니다. 학제적 연구의 진정한 본질은 각각의 특정 사안을 다양한 관점에서, 여러 학문 분야의 지식을 활용하여 분석, 설명, 평가하는 데 있다는 것입니다. 베트남학을 지속 가능하게 발전시키기 위해서는 이 분야의 표준화된 교육과정을 수립하고, 베트남과 베트남인에 대한 포괄적이고 체계적인 지식을 갖추는 동시에 사회 각 분야에서 활동할 수 있는 역량을 보유한 베트남학 졸업생을 배출하는 것을 교육 목표로 명확히 설정해야 합니다.
작가:탄하
최신 뉴스
이전 뉴스