Tóm tắt luận án NCS: Nguyễn Thị Thu Hằng

Chủ nhật - 10/05/2020 22:51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

 

 

 

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

 

 

 

 

 

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 

LUẬN ÁN TIẾN SỸ HỒ CHÍ MINH HỌC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI – 2020

 

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

 

 

 

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

 

 

 

 

 

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 

LUẬN ÁN TIẾN SỸ HỒ CHÍ MINH HỌC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI – 2020

 

 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời mình để đấu tranh giành lấy độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc, nhân dân Việt Nam và những người cần lao trên thế giới. Không những thế, Người còn để lại cho đời sau một kho tàng lý luận vô giá, tư tưởng của Người cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta, nhờ đó cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong thời đại công nghệ phát triển rất nhanh và hội nhập với thế giới ngày càng sâu, rộng như hiện nay, đất nước ta sẽ phát triển bền vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có một Nhà nước “trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Nghĩa là phải xây dựng được một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất dân chủ, tính hợp pháp, hợp hiến và đội ngũ cán bộ tận tâm, tận lực phục sự nhân dân, v.v., là những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó của Người đang là ánh sáng soi đường, định hướng cho sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Nhà nước pháp quyền là mô hình được đánh giá là kiểu tổ chức và quản lý xã hội có tính chất tiến bộ trong lịch sử phát triển của loài người, với tính chất coi trọng pháp luật và pháp luật là công cụ bảo vệ các quyền, sự tự do, dân chủ của con người. Tất nhiên, không thể có một mô hình nhà nước pháp quyền chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc, bởi mỗi quốc gia, dân tộc sẽ có những đặc thù khác nhau. Ngay từ thời cổ đại, một số nhà tư tưởng đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhà nước với pháp luật thông qua những người cầm quyền của nhà nước đó. Những tư tưởng sơ khai đó dần dần được bổ sung thành những học thuyết về nhà nước pháp quyền. Cùng với sự phát triển của lịch sử của nhân loại, tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã ngày càng phát triển và được lan tỏa một cách rộng rãi.

Tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể với những đặc thù của mình mà các dân tộc khác nhau có sự lựa chọn những hình thức nhà nước pháp quyền khác nhau để vận dụng vào tổ chức, quản lý xã hội và phát triển đất nước. Điều này đã tạo nên các hình thức nhà nước pháp quyền về cơ bản có những đặc thù cơ bản giống nhau, nhưng hình thức rất phong phú, đa dạng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những tư tưởng về nhà nước pháp quyền, trên cơ sở đó, có những đề xuất kiến nghị  nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta là việc làm có giá trị khoa học đặc biệt trong tình hình hiện nay.

Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân ta giành được chính quyền, với những nhận định về sự cần thiết của việc xây dựng nhà nước có pháp quyền đã được hình thành từ sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã nhanh chóng bắt tay vào việc thiết lập và xây dựng nhà nước dân chủ mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Xuất phát từ quan điểm “trăm đều phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh đã nêu ra được đặc trưng căn cốt của nhà nước pháp quyền Việt Nam đó là nhà nước đó phải được tổ chức hợp pháp, hợp hiến, có tinh thần “thượng tôn pháp luật”, quan điểm này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại với tính chất của một nhà nước coi trọng pháp luật trong xã hội.

Ngày nay Đảng ta đã xác định, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, căn bản trong đổi mới hệ thống chính trị. Thực hiện nhiệm vụ này, đang đặt ra rất nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, lý thuyết về nhà nước pháp quyền còn nhiều nội dung chưa được làm sáng tỏ, nhất là trong bối cảnh mới và Nhà nước pháp quyền kiểu mới; về mặt thực tiễn xã hội cũng còn nhiều tồn tại như: mô hình, nguyên tắc hoạt động của nhà nước pháp quyền, về cơ chế Đảng lãnh đạo hay về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với thị trường, xã hội, v.v., thậm chí cả những tranh luận về việc có hay không tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền đang tồn tại trong giới nghiên cứu lý luận hiện nay. Do đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền để góp phần hệ thống hóa và lý luận về nhà nước pháp quyền đến nay cũng thực sự chưa có những luận giải thỏa đáng. Về thực tiễn, bộ máy Nhà nước còn tình trạng: đội ngũ cán bộ công chức vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu; đặc biệt là sự hiểu biết và nắm bắt về pháp luật chưa cao dẫn tới thực thi pháp luật chưa nghiêm. Trong xã hội, tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết còn khá phổ biến. Sự thiếu hụt những quy định pháp lý trong điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang là những vấn đề nổi bật. Đây cũng là những rào cản trong quá trình hoàn thiện nhà nước nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Từ những yêu cầu đặt ra trong nghiên cứu lý luận và những hạn chế trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cho thấy việc nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh, khẳng định những giá trị để trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu hết sức cần thiết.

Vì những lý do trên, NCS đã lựa chọn vấn đề “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” cho đề tài cho luận án của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu và hệ thống hóa tư tưởng, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền.

- Nghiên cứu về thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay từ góc nhìn và tính chất về nhà nước pháp quyền của tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Trên cơ sở những vấn đề đặt ra về cả lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất các giải pháp cơ bản để góp phần vào việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay theo tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh.

 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài để chỉ ra những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ.

- Hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền; phân tích những giá trị của tư tưởng đó đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Phân tích thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với việc chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay theo tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh.

- Đề xuất một số giải pháp căn bản trong nhận thức và trong thực tiễn để góp phần hoàn thiện công cuộc xây dựng nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và các giá trị của nó.

Hai là, nghiên cứu, đánh giá kết quả xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và giá trị của nó đối với xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.

+ Thực trạng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay theo tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh được thể hiện qua việc tổng kết thực tiễn, qua các báo cáo, qua các bản Hiến pháp và qua văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận án dựa trên:

+ Hệ thống quan điểm, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước.

+ Những quan điểm trong lịch sử tư tưởng thế giới về nhà nước pháp quyền

+ Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, luận án sử dụng một số phương pháp chuyên ngành và phương pháp liên ngành của khoa học xã hội nhân văn trong từng chương để giải quyết các nhiệm vụ của luận án đặt ra.

Chương Tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa để khái quát và tổng hợp các kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Chương 2, trong việc giải quyết nội dung chương này, với mục tiêu xây dựng khung lý thuyết cơ bản về nhà nước pháp quyền và đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền thì tác giả sử dụng nhiều phương pháp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Cụ thể, trong việc xây dựng bộ khái niệm công cụ, tác giả sử dụng phương pháp quy nạp, diễn dịch. Trong nội dung về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và giá trị của những tư tưởng đó đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay thì tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp locgic, phương pháp lịch sử và kết hợp giữa phương pháp logic với phương pháp lịch sử để hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Để đánh giá những giá trị của những tư tưởng đó tác gua chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp.

Chương 3 với mục tiêu đánh giá thực trạng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng trong việc chỉ ra những thành tựu đạt được và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Chương 4, với mục tiêu đề xuất các giải pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong nghiên cứu.

5. Đóng góp của luận án

- Hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền để khẳng định giá trị nền tảng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

- Đánh giá thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh với những thành tựu đã đạt được và hạn chế nhất là xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận: Với những kết quả nghiên cứu đạt được, luận án góp phần hệ thống hóa quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền từ đó khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng này đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Ý nghĩa thực tiễn: luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu liên quan đến nội dung về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hơn nữa, kết quả của luận án sẽ phục vụ cho việc xây và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay trong việc đề xuất các giải pháp hợp lý trên cơ sở kế thừa và vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh.

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương.

Chương 1

 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1. Tình hình nghiên cứu

1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền

Các nghiên cứu của tác giả trong nước

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền (1992), Giáo trình nhà nước pháp quyền (2015) của tác giả Đào Trí Úc; Pháp quyền nhân nghĩa (2005) của Vũ Đình Hòe; Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền (2006) của Bùi Ngọc Sơn; Sự hạn chế quyền lực nhà nước (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền (2007), Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền (2012) là các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Dung; Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011) của tác giả Trần Ngọc Đường; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân - lý luận và thực tiễn (2010) của tác giả Nguyễn Duy Quý và Nguyễn Tất Viễn; Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân (2012) của Trần Hậu Thành; Bộ máy nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015) của Nguyễn Minh Đoan (2015).

Khối lượng các đề tài nghiên cứu về nhà nước pháp quyền khá lớn như: Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 02 – 13 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền (2013) do tác giả Nguyễn Đình Lộc (2013) làm chủ nhiệm; Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX 04 (2001 – 2005); Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 04-28/06-10 do tác giả Trần Ngọc Đường  chủ nhiệm về Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011).

Nghiên cứu về nhà nước pháp quyền cũng thu hút được nhiều bài viết của tác giả như: Tác giả Nguyễn Mạnh Bình (2009), “Về quan hệ quyền lực của nhân dân với quyền lực nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 5); Lê Văn Cảm, Dương Bá Thành (2010), “Cơ chế kiểm soát quyển lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (1/162); Phạm Văn Đức (2005), “Về một số nét đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học (9); Trần Ngọc Liêu (2004), “Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh ”, Tạp chí Cộng sản (10); Vũ Thị Loan (2013), “Minh triết Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ và nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Triết học (3/262); Đào Trí Úc (2001), “Những luận cứ khoa học của việc hoàn thiện bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (11); Nguyễn Văn Yểu (2005), “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tạp chí Cộng sản (20) v.v..

- Vấn đề nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền đã được nhiều người chọn lựa để nghiên cứu và làm luận án, cụ thể: Nguyễn Thu An (2017), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền – những quan điểm cơ bản và giá trị kế thừa trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay; Vũ Duy Tú (2017), Lý thuyết phân quyền: Giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay; Hoàng Thị Hạnh (2013), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nguyễn Văn Năm (2012), Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay; Hồ Xuân Quang (2008), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ năm 1996 đến 2006; Trần Ngọc Liêu (2009), Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nguyễn Thị Châu Loan (2014), Triết học chính trị J.J. Jousseau và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay; Vũ Trọng Lâm (2014), Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam (Liên hệ qua thực tiễn thành phố Hà Nội;

Các nghiên cứu của tác giả ngoài nước thể hiện qua các tác phẩm viết chung về nhà nước pháp quyền khá nhiều, tiêu biểu như: Tinh thần pháp luật (De L’Esprit des lois) của nhà triết học khai sáng Pháp Montesquieu; Bàn về khế ước xã hội của Jean Jacques Rousseau do tác giả Hoàng Thanh Đạm dịch (2013); Khuyến học của Fukuzawa Yukichi; Joseph Thesing với cuốn Nhà nước pháp quyền – Chế độ cai trị của Cộng hòa Liên Bang Đức; Nhà nước pháp quyền – Từ điển dành cho các nhà hoạch định chính sách (The Rule of law – A Lexicon for policy Makers) của tác giả Barry M.Hager (1999); David Held (2013) với cuốn Những mô hình quản lý nhà nước hiện đại; Raz (1979) trong công trình Liberty and the rule of law; John Keane (1988) Democracy and Civil Society (Dân chủ và xã hội dân sự), v.v.         

1.2 Các công trình nghiên cứu về thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam  

Tác phẩm Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Văn Niên (1996); Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân  của tác giả Nguyễn Trọng Thóc (2005); Đào Trí Úc (2005) với công trình Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Triết học Chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của tác giả Lê Tuấn Huy (2006); Nguyễn Văn Thảo (2006), Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng; Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa (2006) với công trình Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới; Trần Ngọc Đường, Nông Đức Mạnh (2008) với cuốn Mô hình tổ chức và phương hướng hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2016) đã xuất bản công trình Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong văn kiện đại hội XII của Đảng; Đinh Thế Huynh, Lưu Bảo Kỳ, Trần Ngọc Đường (2015) với tác phẩm Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc; Lê Mậu Hãn (2006) đã có hai tác phẩm quan trọng: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945 – 1954; Lê Minh Quân (2003) với Xây dựng Nhà nước Pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; Nguyễn Văn Thảo (2006) đã viết cuốn Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng; Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2010) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – lý luận và thực tiễn; Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (1993), Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; Phạm Văn Đức (2015), Thực hành dân chủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v..

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên còn nhiều tác giả cũng thể hiện sự quan tâm qua các công bố khoa học như: Tạ Ngọc Tấn (2015) với tác phẩm Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào; tác giả Phạm Văn Đức (2015) với tác phẩm Thực hành dân chủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, v.v.;

1.2.  Những thành tựu và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

1.2.1 Những thành tựu đã đạt được

Có thể khái quát các kết quả nghiên cứu của các công trình như sau:

Về mặt tư liệu cho thấy ở các mức độ nghiên cứu khác nhau, song các công trình đã góp phần nhất định trong việc làm rõ các vấn đề như: Quan niệm của lịch sử tư tưởng nhân loại về nhà nước pháp quyền; Các nội dung liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền; Quan điểm cũng như quá trình nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền; Đánh giá thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở một số giai đoạn nhất định từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Về phương pháp, các công trình nghiên cứu ở các lĩnh vực, các mảng các nhau trong lý luận và cả thực tiễn về xây dựng nhà nước pháp quyền đã cho thấy các cách tiếp cận khác nhau về nhà nước pháp quyền như: triết học, luật học, lịch sử, chính trị v.v... Đây là cơ sở cho thấy, nghiên cứu về nhà nước pháp quyền cần một cái nhìn, một cách tiếp cận mang tính tổng thể, đa chiều để đánh giá cũng như việc đề xuất các giải pháp mang tính toàn diện hơn

Về nhận thức, lịch sử nghiên cứu và các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền toát lên các ý nghĩa về mặt nhận thức đó là: nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.

1.2.2.  Những nội dung luận án cần giải quyết

Qua khảo sát cho thấy, nghiên cứu về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay vẫn luôn là một vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu điều này được xác định xác định trong luận án đó là:

Thứ nhất, tiếp tục hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền bao gồm: những nội dung cơ bản; xác định đặc trưng; chỉ ra những giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, trên cơ sở tư tưởng và những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, luận án đi vào phân tích thực trạng việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chỉ ra những ưu điểm đồng thời cả những hạn chế của thực trạng.

Thứ ba, trên cơ sở thực trạng được đánh giá, luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nhằm góp phần vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh.

Tiểu kết chương 1

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có thể thấy, vấn đề nhà nước pháp quyền nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam nói riêng là vấn đề thu hút được nhiều nhà nghiên cứu với khối lượng lớn và chất lượng cao của các công trình. Trong Chương Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết hai vấn đề cơ bản: một là tổng hợp, nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu có liên quan tới vấn đề nhà nước pháp quyền tập trung ở hai mảng: tư tưởng về nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền với mục đích tổng quan các kết quả nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền. Hai là, tổng quan các tài liệu về xây dựng nhà nước pháp quyền với mong muốn tìm hiểu về thực trạng cũng như sự vận dụng lý luận về nhà nước pháp quyền trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Trên cơ sở đó tìm hiểu những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Tổng quan tình hình nghiên cứu đã xác định được diện mạo của vấn đề nghiên cứu cũng như xác định một kho tư liệu trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu trong luận án. Trên cơ sở xác định những điểm đã đạt được và cả những hạn chế trong nghiên cứu đi trước, luận án sẽ xác định được vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ. Phần cuối đặt ra các vấn đề luận án cần tiếp tục đi vào nghiên cứu đồng nghĩa với mục tiêu của luận án đã đặt ra.

Chương 2

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 

2.1. Một số khái niệm cơ bản

2.1.1. Nhà nước pháp quyền

Thuật ngữ Nhà nước pháp quyền với các ngôn ngữ khác nhau đều có nghĩa là Nhà nước phải chịu sự ràng buộc của pháp luật”. Do vậy, đặc tính căn bản nhất của nhà nước pháp quyền đó là tính tối thượng của pháp luật trong nhà nước.

Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đưa ra các khái niệm về nhà nước pháp quyền như: Trong từ điển Xã hội học của tác giả Nguyễn Khắc Viện có nêu: “Nhà nước pháp quyền xây dựng trên cơ sở dân chủ, đối lập với nhà nước độc tài, chuyên chế toàn trị... Nhà nước pháp quyền không đồng nghĩa với nhà nước cai trị bằng pháp luật... Nhà nước pháp quyền xây dựng trên cơ sở xã hội công dân... pháp luật là thước đo của tự do” [144, tr.135]. Tác giả Đào Trí Úc đưa ra: “Nhà nước pháp quyền là một mô hình nhà nước được xây dựng trên nền tảng dân chủ và tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân quyền. Trong nhà nước đó, chủ nghĩa lập hiến được đề cao, quyền lực nhà nước bị giới hạn bởi một hệ thống pháp luật được áp dụng thống nhất, minh bạch, công bằng và đảm bảo quyền được tiếp cận của mọi chủ thể. Nhà nước thực thi quyền lực của mình trên cơ sở pháp luật theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân” [141, tr.62]. Tác giả Nguyễn Đăng Dung: “Nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và vận hành trên cơ sở các quyền tự nhiên, mọi chủ thể trong đó có cả nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật .... Bản chất của nhà nước pháp quyền được quy định bởi hệ thống luật” [22, tr.26 – 28].

2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Hồ Chí Minh đã đề cập đến tư tưởng với tính chất cơ bản của nhà nước pháp quyền từ rất sớm trong tư tưởng của Người và trong thực tiễn xây dựng nhà nước dân chủ Việt Nam. Ngay từ năm 1919, trong bản Yêu sách gửi tới hội nghị Vecxay, Hồ Chí Minh đã nêu ra việc đòi hỏi phải có chế độ ra các đạo luật thay cho chế độ ra các sắc lệnh và kèm theo quan điểm: “trăm đều phải có thần linh pháp quyền” [76, tr.438]. Với kết quả về cả lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định tư tưởng nhà nước pháp quyền theo Hồ Chí Minh là tư tưởng về một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hoạt động và quản lý xã hội theo pháp luật và do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

2.1.3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thuật ngữ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng lần đầu tiên vào năm 1994 trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII. Khái niệm nhà nước pháp quyền là một loại hình nhà nước gắn với nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đảng ta xác định xây dựng nhà nước pháp quyền là “xác lập nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi trọng tính pháp quyền trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước” [145, tr.6].

Trải qua các kỳ Đại hội, tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Đảng ta đã có những bước phát triển nhất định. Hiện nay, khái niệm “nhà nước pháp quyền” kết hợp với khái niệm “nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thành khái niệm “Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Hai là, Trong nhà nước pháp quyền Việt Nam quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận vị trí tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; tổ chức và hoạt động của Nhà nước thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Hệ thống pháp luật được xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân và có vai trò điều chỉnh tất cả các mối quan hệ thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bốn là, nhà nước luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế trong đó Việt Nam là thành viên.

Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

2.1.4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhà nước đó là nhà nước tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và pháp luật trong quản lý và điều hành nhà nước và xã hội với mục tiêu đảm bảo quyền cuả con người trong nhà nước và trong xã hội; bộ máy nhà nước được cấu trúc và vận hành trên nền tảng quyền lực nhà nước là thống nhấ và tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp  và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Trên cơ sở xác định nội hàm của khái niệm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu: đó là vận dụng những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay với nội hàm về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như trên đã nêu. Những điểm phù hợp, tương đồng trong giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền so với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay được nêu ra, xác định và vận dụng để xây dựng chính là mục tiêu của xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

2.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền

2.2.1. Nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng tính tối cao của pháp luật

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân phải là nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật dân chủ. Tinh thần “thượng tôn pháp luật” là một trong những đặc trưng căn bản của nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Sở dĩ, nhà nước pháp quyền đề cao tính tối cao của pháp luật bởi vì về bản chất pháp luật là cơ sở về mặt pháp lý để bảo đảm cho sự công bằng, dân chủ, tiến bộ xã hội. Pháp luật được coi là tấm gương để phản ánh bản chất nhà nước. Mặt khác, nhà nước sử dụng pháp luật là công cụ để thực hiện việc quản lý xã hội, đưa xã hội vào quỹ đạo của sự trật tự và ổn định. Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là “bà đỡ của dân chủ”, mọi quyền dân chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật. Không có dân chủ bên ngoài pháp luật và pháp luật là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho các quyền tự do của nhân dân. Giữa pháp luật và dân chủ tồn tại mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Dân chủ là nền tảng của pháp quyền, pháp quyền là phương tiện để thực hành dân chủ và là thước đo của dân chủ trong xã hội.

2.2.2. Nhà nước pháp quyền là nhà nước luôn hướng tới bảo vệ quyền con người

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền con người được coi là nền tảng, mục tiêu sự nghiệp cách mạng của Người. Mong muốn duy nhất của Hồ Chí Minh đó là làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở và  làm cho dân được học hành. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” [78, tr.152]; “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ [78, tr.152]. Vì vậy, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là tìm đường để cứu nước cứu dân, hay nói cách khác, tìm đường để giành lại quyền của con người Việt Nam trước ách thống trị của chủ nghĩa để quốc và phong kiến tay sai. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh quyền con người suy rộng ra đó là quyền dân tộc và được khẳng định, ghi nhận trong các văn kiện có tính chất pháp lý như Tuyên ngôn độc lập và hiến pháp của nhà nước. Quyền con người theo Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước, nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước. Thông qua hoạt động bầu cử tức là nhân dân đã tham gia vào việc tạo dựng những thiết chế của bộ máy nhà nước. Sau khi bộ máy nhà nước được lập nên thì phải hoạt động và chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân.

2.2.3. Nhà nước pháp quyền có sự kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội

Tư tưởng kết hợp giữa “đức trị” và “pháp trị” là một trong những nội dung đặc sắc trong nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh. Mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật trong nhà nước pháp quyền được Hồ Chí Minh lý giải: “Đạo đức và pháp luật là nhất thể. Cái nhất thể ấy không phải luôn luôn cứ giữ nguyên trạng. Nhưng dù nó có biến đổi như thể nào, cùng với sự biến chuyển cả vạn vật... thì cái căn nguyên của nó vẫn thế. Đó là tính nhân bản của đạo đức và pháp luật” [58, tr. 327 – 388].

Trong quan niệm về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố nào trong xã hội mà ở đây, Người đã chỉ ra được vai trò của từng yếu tố đồng thời là sự kết hợp giữa hai nhân tố này trong nhà nước pháp quyền. Pháp luật có vai trò trong việc thiết lập và đảm bảo trật tự xã hội, song điều quan trọng là pháp luật phải đảm bảo các giá trị đạo đức trong xã hội đó là công bằng và bình đẳng. Do vậy, pháp luật phải được xây dựng và tồn tại trên nền tảng đạo đức. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền dân chủ không thể đi ngược lại với các giá trị và chuẩn mực đạo đức trong xã hội.

2.2.4. Quyền lực nhà nước là thống nhất và có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước

Hồ Chí Minh về cơ bản đã kế thừa những giá trị của nguyên tắc phân quyền trong nhà nước pháp quyền phương Tây để đưa ra một quan điểm mang tính sáng tạo nhưng hoàn toàn phù hợp với bản chất xã hội Việt Nam đó là tư tưởng về quyền lực trong nhà nước. Theo đó quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Về mặt nguyên lý cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước Hồ Chí Minh thừa nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, mọi quyền lực tập trung vào Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất do nhân dân cử ra. Hệ thống các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước đều được hình thành và hoạt động do sự ủy quyền của Quốc hội. Các cơ quan nhà nước hành pháp và tư pháp đều được hình thành và hoạt động do sự ủy quyền của Quốc hội, các hoạt động của nhà nước được Quốc hội thành lập đều được gọi là phát sinh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thống nhất quyền lực nhà nước còn được thể hiện ở nguyên tắc tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân.

2.3. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2.3.1. Xác định đúng vị trí, vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và đưa ra quan điểm về hệ thống pháp luật tiến bộ

Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm Người đã nhận thức và đánh giá vai trò của pháp luật đối với nhà nước, những tư tưởng của Người về pháp lý, pháp luật đặc biệt có giá trị đối với xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, cụ thể các giá trị cốt lõi ấy thể hiện ở tư tưởng về bản chất của nền pháp luật dân chủ và tinh thần tôn trọng tính tối cao của pháp luật. Một trong những nguyên tắc tối cao của nhà nước pháp quyền dân chủ là nhà nước phải thực hiện việc quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật dân chủ bởi nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ một cách triệt để và toàn diện. Bên cạnh đó, nhà nước đó phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, nhà nước phải có một hệ thống hiến pháp dân chủ. Tư tưởng này đã phản ánh bản chất cốt lõi của nhà nước dân chủ pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời, nó đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động quản lý nhà nước của Người trong suốt những năm tháng từ những ngày với vai trò sáng lập nhà nước dân chủ mới khi đảm nhận sứ mạng là người đứng đầu nhà nước.

2.3.2. Xây dựng nhà nước đảm bảo quyền con người

Trong tư tưởng cũng như thực tiễn xây dựng nhà nước Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến việc xác định quyền của nhân dân, điều này đã được quy định tại Hiến pháp 1946. Theo Hồ Chí Minh: “trong một nhà nước pháp quyền, nhà nước phải hành động vì mục tiêu bảo vệ các quyền của người dân. Muốn vậy, quyền của con người phải được ấn định trong Hiến pháp như một giới hạn đối với quyền lực nhà nước. Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, còn ngược lại người dân thì được làm những gì mà pháp luật không cấm” [22, tr.142]. Về cơ bản, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong nhà nước pháp quyền rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở các điểm: nhân dân có quyền bầu các đại biểu của mình tham gia vào bộ máy nhà nước. Quyền này thể hiện vai trò kiến tạo nhà nước của nhân dân. Ở đây, nhân dân đang đóng vai trò là chủ thể quyền lực nhà nước và nhân dân có quyền giám sát hoạt động và bãi miễn các vị đại biểu do mình bầu ra nếu họ đi ngược lại với lợi ích của quốc gia dân tộc.

 2.3.3. Nhà nước luôn đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội

Tôn trọng tính tối cao của pháp luật trong quản lý xã hội là một giá trị sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Nhưng, điểm đặc biệt là ở chỗ Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật mà tư tưởng của Người trong phép trị nước là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “nhân trị, đức trị” và “pháp trị”. Sự thống nhất giữa đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn được thể hiện qua cách Người xử lý các hành vi phạm pháp. Tất cả đạo đức và pháp luật đều hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Quan điểm về “cái lý, cái tình” của Hồ Chí Minh cho thấy, quan điểm của Người là sự kết hợp giữa tính khách quan, công bằng, minh bạch nhưng cũng cần sự bao dung, độ lượng mà không hề có sự bao che. Chính bởi sự độc đáo này đã tạo một giá trị rất điển hình trong lịch sử lập pháp, lập hiến của nhà nước ta cho đến nay trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn nguyên giá trị đồng thời mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2.3.4. Về thiết lập nguyên tắc tổ chức quyền lực phù hợp trong bộ máy nhà nước

Quan điểm về phân công quyền lực nhà nước của Hồ Chí Minh không phải là tư tưởng về phân quyền mà nó gần như là sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Về cơ bản tư tưởng về tổ chức quyền lực trong nhà nước pháp quyền được thể hiện đó là tất cả mọi quyền lực trong nhà nước đều thuộc về nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất trong nhà nước là do dân bầu ra thông qua Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu và quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền phải được phân công và kiểm soát.

Sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với việc các thiết chế này hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ bởi quan niệm này cho thấy đây chỉ là những nhánh khác nhau về chức năng trong bộ máy nhà nước và là sự phân chia đơn giản là về kỹ thuật trên cơ sở mọi quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhân dân như Hiến pháp đã quy định. Đó cũng không phải là phân chia một cách cứng nhắc mà sự phân chia này giúp cho quyền và trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải phân nhiệm rõ ràng. Tính có giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phân quyển còn thể hiện ở chỗ, các cơ quan quyền lực này mặc dù phân định với nhau về chức năng, nhiệm vụ song luôn có sự phối kết hợp lẫn nhau và sự tự kiểm tra lẫn nhau, để để tránh sự chồng chéo nhau về mặt quyền lực, tránh sự lạm quyền, vượt quyền và sự hoạt động của các cơ quan công quyền trong nhà nước tất cả vì mục tiêu thiết lập và bảo đảm quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phân quyền và thực tiễn xây dựng và xác lập vị trí, trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước đã chấm dứt chế độ độc quyền, chuyên chế (chế độ phong kiến trước năm 1945) để mở ra một thời kỳ mới của lịch sử phát triển nhà nước, dân tộc đó là thời kỳ dân chủ. Đồng thời, việc phân quyền tạo cơ chế chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa đối với các cơ quan công quyền góp phần nâng cao hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Tiểu kết chương 2

Với mục têu xây dựng một khung lý thuyết căn bản phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của luận án, chương 2 của luận án tập trung nghiên cứu ở ba vấn đề cơ bản.

Một là, đưa ra các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cụ thể là acsc khái niệm liên quan đến vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, luận án đi vào khái quát một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Với hệ thống các quan điểm, lý luận về những đặc điểm của nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày và phân tích qua luận án này, chúng tôi hoàn toàn có thể khẳng định được sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Điều này góp phần hệ thống hóa tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh và trả lời cho những nghi vấn còn đang tồn tại trong nghiên cứu hiện nay là có hay không tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền?.

Ba là, luận án đã nêu lên những giá trị cốt lõi của hệ thống tư tưởng đó với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Về cơ bản, các giá trị này được rút ra trên cơ sở lý luận của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền mà Người đã kế thừa có chọn lọc để phát triển cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Những giá trị này được xem như những chỉ dẫn có tính nguyên tắc trong thực tiễn xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Chương 3

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

3.1. Những thành tựu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

3.1.1. Sự phát triển trong tư duy của Đảng về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Khi đi vào đánh giá những thành tựu trong từng lĩnh vực về xây dựng nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay, quá trình nhận thức và khẳng định của Đảng ta về tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam cũng được xem là một trong những thành tựu về đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng. Sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng về nhà nước pháp quyền có ý nghĩa quyết định tới công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.

Qua quá trình hình thành và phát triển đi đến hoàn thiện quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền đặc biệt là từ Đại hội lần thứ VII cho đến nay cho thấy, nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền đã có những sự phát triển vượt trội. Từ việc đưa ra khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nhà nước pháp quyền đến việc đưa ra và sử dụng chính thức khái niệm nhà nước pháp quyền trong các văn kiện của Đảng, đến nay Đảng ta đã xác định và hệ thống hóa nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thậm chí còn đưa ra những quyết định về cải cách trong bộ máy nhà nước nhằm thúc đẩy và góp phần quan trọng vào xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền trong quan niệm của Đảng ta cho thấy Đảng ta đã có sự kế thừa tư tưởng nhận loại và đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

3.1.2. Xây dựng Nhà nước dân chủ

Một trong những đặc trưng bản chất của nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà cho đến nay công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của nước ta đạt được một số kết quả quan trọng đó là xây dựng nhà nước dân chủ - nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Những kết quả đạt được trong thực tế về xây dựng nhà nước mang bản chất dân chủ được thể hiện qua quyền làm chủ của nhân dân một cách toàn diện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và qua hệ thống Hiến pháp, pháp luật trong đó quy định về các quyền con người, đồng thời qua cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm mục tiêu tất cả là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây cũng chính là thực trạng của việc thực hành dân chủ trong đời sống xã hội. Bản chất dân chủ của nhà nước được thể hiện qua tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội – dân chủ toàn diện. Cụ thể là nhân dân có quyền dân chủ trong tát cả các lĩnh vực của đòi sống xã hội như: dân chủ trong lĩnh vực chính trị, trong lĩnh vực kinh tế và trong văn hóa – xã hội.

3.1.3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống Hiến pháp và pháp luật, đồng thời đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng

Trong nhà nước pháp quyền việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Hiến pháp và pháp luật là yêu cầu căn cốt, điều này đã được Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng trong khi đưa ra quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, bên cạnh việc coi trọng pháp luật Hồ Chí Minh cũng đồng thời đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng. Xuất phát từ yêu cầu của việc thực hiện dân chủ trong xã hội, dân chủ càng cao thì pháp quyền càng nghiêm, pháp quyền càng nghiêm thì dân chủ mới dễ dàng thực hiện. Bởi vậy, nhà nước pháp quyền Việt Nam trong quá trình xây dựng một mặt vừa nêu cao tính chất “thượng tôn pháp luật”, mặt khác đẩy mạnh việc nâng cao đạo đức cách mạng trong toàn xã hội.

3.1.4. Xây dựng bộ máy nhà nước với cơ chế hoạt động phù hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước

Trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, bên cạnh việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, đề cao hiến pháp và pháp luật trong nhà nước, việc xây dựng và tạo dựng bộ máy nhà nước với cách thức tổ chức và hoạt động phù hợp là một trong những thành tựu quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Điểm đáng ghi nhận ở chỗ, nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hoạt động với sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhưng có sự kiểm soát lẫn nhau và tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Đây là một trong những đặc trưng riêng, nổi bật nhưng lại thể hiện bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền Việt Nam.

3.1.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình xây dựng nhà nước Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng tới công tác cán bộ. Pháp lệnh cán bộ công chức được ban hành năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã tạo một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã nâng pháp lệnh đó thành Luật cán bộ, công chức và ban hành Luật viên chức. Trong những quy định của pháp luật cũng đã quy định rõ về việc cán bộ công chức tham gia vào các khu vực làm việc khác nhau, các nhóm công việc khác nhau và cũng quy định rõ những điều mà cán bộ công chức không được làm.

Với chủ trương tăng cường công tác giáo dục, nâng cao chất lượng, đội ngũ cán bộ công chức đã có nhiều trưởng thành, được chuẩn hóa về đội ngũ và có nhiều đóng góp để mang lại những kết quả nhất định vào nền hành chính nước nhà, từng bước khắc phục tình trạng quan liêu, bao cấp và những tiêu cực trong hoạt động hành pháp của nhà nước. Đặc biệt, Đảng ta đã dành một phần trí tuệ lớn và công tác cán bộ và phát triển đội ngũ vào đội ngũ cán bộ các cấp. Trong nhà nước pháp quyền, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đủ năng lực và phẩm chất đạo đức là chưa đủ. Với tính chất nhà nước mà “trăm đều phải có thần linh pháp quyền” thì việc yêu cầu cán bộ công chức nhà nước và nhất là cán bộ ngành tư pháp phải “phụng công thủ pháp, chí công vô tư” là yêu cầu quan trọng và cần thiết.

3.2. Một số hạn chế trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

3.2.1. Vấn đề dân chủ trong xã hội

Một số hạn chế

Thứ nhất, hạn chế trong nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, về thực hành dân chủ, trách nhiệm của nhà nước với nhân dân trong việc thực hiện dân chủ đôi khi và ở một số nơi cũng chưa thực sự sát sao và có tính trách nhiệm thậm chí còn thiếu trách nhiệm và buông lỏng dẫn tới tình trạng bức xúc trong nhân dân.

Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

Thứ nhất, về cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” cần được làm rõ hơn về cả lý luận và thực tiễn.

Thứ hai, về nhận thức của xã hội về dân chủ bao gồm nhận thức của nhân dân và nhận thức của cán bộ đảng viên trong nhà nước.

Thứ ba, về phương thức thực hành dân chủ với việc đưa ra các phương thức phù hợp với các đối tượng nhân dân có trình độ, môi trường sống, đặc điểm tâm lý vùng miền khác nhau sẽ hướng tới việc thực hành dân chủ trong nhân dân triệt để hơn, tránh hình thức, qua loa, đại khái.

Thứ tư là vấn đề đặt ra đối với công tác thông tin tuyên truyền.

3.2.2. Vấn đề tổ chức, hoạt động và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quyền lực trong nhà nước

Một số hạn chế

Trong những vấn đề hạn chế, khó khăn, vướng mắc khi xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam thì việc tổ chức, hoạt động và sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước là một trong những vấn đề đặt ra hiện nay. Những hạn chế tập trung ở các điểm như: Bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, hiệu quả hoạt động còn thấp; các cơ quan quyền lực nhà nước chưa phát huy hết hiệu quả, trách nhiệm và vai trò của mình; Về phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương hiện nay còn đang đặt ra nhiều vấn đề thể hiện quan việc hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước quy định về phân cấp, phân quyền còn ít, gần như mới dừng lại ở các nguyên tắc; vẫn còn tình trạng quyền lực tập trung khá nhiều ở các cơ quan trung ương; mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các cấp gần như giống nhau trong khi điều kiện, cơ sở, cả các yếu tố về địa lý ở các địa phương rất khác nhau.

Những vấn đề đặt ra

Đối với vấn đề tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước vấn đề đặt ra là việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo hướng đổi mới hoạt động của máy nhà nước ở hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước là Quốc hội, Chính phủ và Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

3.2.3. Vấn đề xây dựng và thực thi pháp luật

Một số hạn chế

Nhìn chung, hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ và hoàn thiện, chất lượng và hiệu quả cũng như chưa thực sự sâu sát với thực tiễn xã hội. Nhiều quy định của pháp luật còn mang tính vĩ mô do đó muốn đưa vào áp dụng trong thực tiễn xã hội cần phải có một hệ thống các văn bản dưới luật.

Trong xây dựng và ban hành luật, pháp lệnh tính khả thi và tính hiệu quả của pháp luật ở nước ta còn thấp; tiến độ của việc xây dựng luật và pháp lệnh vẫn còn chậm, hệ thống luật vẫn chưa bao quát đủ các mặt của đời sống xã hội nên chưa điều chỉnh hết được các mối quan hệ trong xã hội.

Về thực thi luật: một trong những hạn chế lơn đó là nhận thức của đại bộ phận nhân dân về pháp luật và ý thức thực thi pháp luật của nhân dân chưa cao.

Vấn đề đặt ra

Vấn đề căn bản nhất đặt ra đối với pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đó là nâng cao tính khả thi của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội. Thực hiện được yêu cầu này cần tập trung cả hai vấn đề xây dựng luật và thực thi luật.

Tiểu kết chương 3

 Trên cơ sở đó, nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng và phát triển theo những đặc trưng cơ bản về nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đánh giá thực trạng vấn đề này chỉ ra hai mặt cơ bản đó là những thành tựu đạt được và những hạn chế còn đặt ra. Về cơ bản, những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta tập trung ở các điểm chính đó là:

- Sự phát triển trong quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền được thể hiện qua các văn kiện Đảng và được hiện thực hóa bằng chính sách, pháp luật của nhà nước.

- Xây dựng nhà nước dân chủ trong tất cả các phương diện xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội trong đó nhấn mạnh quyền làm chủ của con người là quyền “tối thượng”, là căn cốt của nhà nước dân chủ pháp quyền.

- Nước ta cơ bản đã xây dựng được một hệ thống pháp luật cơ bản hoàn thiện, được thực thi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội góp phần đảm bảo và nâng cao phát huy dân chủ trong xã hội.

- Xây dựng được một bộ máy nhà nước với chế độ phân quyền hợp lý giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thể hiện qua việc bộ máy nhà nước đã tổ chức được theo hướng phân công nhưng có sự kiểm soát lẫn nhau, phối hợp cùng nhau trong hoạt động.

- Xây dựng được một đội ngũ cán bộ công chức nhà nước về cơ bản đáp ứng được những yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặc biệt là đội ngũ cán bộ tư pháp không chỉ chuẩn về chuyên môn, đầy đủ đạo đức cách mạng mà còn có tinh thần “phụng công thủ pháp”.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay còn đặt ra rất nhiều các vấn đề. Đây chính là những hạn chế, những yếu điểm mà chúng ta chưa khắc phục được trong xây dựng nhà nước. Những hạn chế này tập trung chủ yếu ở việc: chất lượng đội ngũ cán bộ công chức còn thấp dẫn đến cơ quan nhà nước hoạt động chưa thực sự hiệu quả; dân chủ trong xã hội nhiều lúc, nhiều nơi còn mang tính hình thức, việc thực hiện dân chủ chưa triệt để và đôi khi quá chú trọng vào thành tích trong khi sự hiểu biết, kiến thức của nhân dân về dân chủ còn rất hạn chế. Ngoài ra, hệ thống pháp luật cũng chưa thực sự bao quát hết các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, công tác xây dựng pháp luật còn thiếu tính phản biện xã hội, việc thực thi pháp luật ở một vài nơi còn lỏng lẻo, sự hiểu biết của nhân dân trong đó có cả bộ phận cán bộ viên chức nhà nước về pháp luật còn rất hạn chế dẫn tới sự vi phạm pháp luật thậm chí gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng trong xã hội v.v., Từ việc chỉ ra những hạn chế ở các mặt đó, luận án xác định những vấn đề đặt ra cần giải quyết và xem đó là căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong nhà nước pháp quyền hiện nay nhằm hướng tới hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chương 4

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

4.1. Những định hướng căn bản của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Một là, dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, Đảng tiếp tục lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hai là, dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện liên minh giai cấp trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ba là, Đảng ta khẳng định “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” [147, tr.54]. Việc đổi mới hệ thống chính trị bao hàm trong đó nhiệm vụ đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước bởi nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị.

4.2. Một số giải pháp góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4.2.1. Một số yêu cầu đặt ra

Một là, đảm bảm việc thực hiện nguyên tắc dân chủ và pháp quyền trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Hai là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải được xây dựng một cách đồng bộ, toàn diện trên tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả.

Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp vệ pháp luật.

4.2.2. Một số giải pháp chủ yếu

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa

- Xây dựng bộ máy chính quyền liêm khiết, có hiệu lực hiệu quả

- Phát huy dân chủ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

-  Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật và đạo đức cách mạng

Tiểu kết chương 4

 Các giải pháp trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền được chúng tôi đề xuất trên cơ sở định hướng của Đảng về nhà nước pháp quyền và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Các nhóm giải pháp tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, tập trung vào việc phát huy dân chủ trong xã hội. Trong nhóm giải pháp này tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: nâng cao vai trò, tính tích cực, chủ động của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ; mở rộng các hình thức dân chủ và xây dựng xã hội dân sự, bình đẳng, tiến bộ.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Đối với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước theo chúng tôi tập trung vào ba vấn đề cơ bản cần thực hiện đổi mới để đi đến hoàn thiện đó là sự thống nhất của quyền lực nhà nước, sự phân công giữa các cơ quan quyền lực nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.

Thứ ba, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Về vấn đề này, các giải pháp đưa ra cần chú ý đến việc sử dụng cán bộ, tuyển chọn cán bộ và đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Các khâu này đều rất quan trọng trong việc tạo ra đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng thời kỳ đổi mới và quyết định đến sự thành công của sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền hiện nay.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân và nâng cao đạo đức trong xã hội là giải pháp vừa có tính hiện tại vừa có giá trị tương lai, lâu dài trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền hiện nay.

KẾT LUẬN

Những nghiên cứu bước đầu về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là một trong những nội dung có vị trí quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên cơ sở những giá trị dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại mà nền tảng là quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước dân chủ. Tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh có quá trình hình thành và phát triển từ rất sớm và quá trình đó gắn liền với các hoạt động cách mạng của Người. Với sự nghiệp lập hiến và lập pháp của nước Việt Nam thì Hồ Chí Minh có vai trò rất quan trọng với việc trực tiếp xây dựng hai bản Hiến pháp là Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh rất có giá trị. Những giá trị căn bản được rút ra từ sự phù hợp và đúng đắn ở quan điểm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền và cho đến nay tư tưởng của Người vẫn luôn được khẳng định là những chỉ dẫn cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai, đánh giá thực trạng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay dựa trên những quan điểm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng cua bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam có thể thấy những thành tựu đáng kể nhưng cũng không ít những tồn tại đang đặt ra. Về những thành tựu đạt được trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam cơ bản là kết quả của quá trình xây dựng nhà nước dân chủ và thực hiện công cuộc đổi mới. Những thành tựu đó tập trung chủ yếu ở việc thiết lập một chế độ dân chủ; kết quả lập pháp, lập hiến với sự ra đời và ban hành các Hiến pháp dân chủ hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ nhà nước, bảo vệ nhân dân và thành quả ở việc tổ chức và tạo ra cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau. Tất nhiên, trong mỗi lĩnh vực của việc xây dựng nhà nước pháp quyền bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại không ít các hạn chế. Đây chính là mục tiêu cần khắc phục khi đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, việc đề xuất các giải pháp đối với xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay dựa trên định hướng của Đảng thể hiện trong các văn kiện chính trị của Đảng trên cơ sở nền tảng lý luận đó là tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nói riêng. Các giải pháp này cơ bản tập trung vào các vấn đề mà chúng ta chưa thực hiện được hoặc đã thực hiện nhưng chưa có kết quả. Việc xác định các giải pháp chứng tỏ rằng việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền cũng cần được tiến hành tổng thể trong cả hệ thống chính trị. Các giải pháp đưa ra cũng cần có sự toàn diện ở các mặt, các lĩnh vực của xã hội. Các giải pháp đó đều có vai trò quan trọng đối với việc hoàn thiện nhà nước pháp quyền. tác giả luận án nhận định rằng trong số các giải pháp đó thì giải pháp tập trung vào đổi mới, hoàn thiện về tổ chức, cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước trong nhà nước pháp quyền là giải pháp quan trọng nhất bởi suy cho cùng, các cơ quan nhà nước là đầu não trí tuệ, là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Do vậy, việc tổ chức và xây dựng một bộ máy với các cơ quan nhà nước hoạt động tích cực, có hiệu quả là điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thành công.

Quá trình nghiên cứu cho thấy, định hướng và đề xuất những giải pháp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của các nhà nghiên cứu Việt Nam dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền rất quan trọng và tiếp tục nghiên cứu về những nội dung đó, vận dụng triệt để như thế nào đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam vẫn là vấn đề đang thu hút được nhiều nhà nghiên cứu. Điều này góp phần khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong mọi thời đại.

Tác giả: ussh

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây