黄氏珠1934年出生于顺化郊区,是法国殖民时期一个公务员家庭的小女儿。她幼时在富安就读小学。1945年越南民主共和国成立后,她随父亲和哥哥迁居顺化。在顺化继续学业期间,抗法战争爆发。怀着青年人的爱国热情,她一边上学,一边积极参与革命活动,在市内青年游击队中战斗。

黄氏珠教授、博士、人民教师/摄影:清龙
她家是传统的革命家庭。在整个抗美战争期间,她的父母一直在家中庇护革命干部。三姐妹从第一次抗美战争开始就活跃在敌后。她的大姐被俘,流放到昆岛。二哥也在狱中遭受酷刑。她本人也曾两次被捕入狱。然而,每次逃脱后,她都继续从事革命活动。她最后一次离开顺化是在菩提中学(一所佛教学校)教书和做宣传工作的时候。那次,基地暴露了,她刚走进教室,警察就冲进来把她包围了。但有人及时通知了她,让她得以迅速逃脱,抵达抗战区。她加入了共产党,并接受了进一步的教育。她跟随组织越过边境进入北方。那是1955年。
一年后,即1956年,为了在培养科学干部队伍的长期战略中优先考虑南方儿童,国家出台了相关政策,黄氏珠被送往苏联一所大学留学。同年,在罗蒙诺索夫大学,越南侨民协会迎来了另一位来自浪漫之都顺化的魅力十足却又无比勇敢的女学生。在那个年代,女大学生非常罕见。
Tốt nghiệp đại học năm 1962, Hoàng Thị Châu về nước và công tác trong tổ bộ môn Ngôn ngữ học, Khoa Ngữ văn. Ngay sau khi về nước một thời gian bà đã bắt đầu có những bài nghiên cứu được giới chuyên môn chú ý. Đó là những bài viết như 越南民族身份核实问题。 viết chung với Nguyễn Linh (Dân tộc, số 38.1963); 通过河流名称揭示东南亚古代语言之间的联系。(河内大学科学公报,文献卷2,教育出版社,1966年)从语言学文献中可以看出凡郎王国的疆域。(摘自《雄王建国史》第一卷,社会科学出版社,1968年)……发表这些文章后,黄氏珠确定了她长期的职业方向。她专注于地名学、方言学、越南语教学方法以及少数民族语言和文字系统的深入研究。谈及越南方言学,黄氏珠是不可或缺的人物。她是该领域的权威专家。
Sau khi công tác 13 năm tại tổ Bộ môn Ngôn ngữ học, bà được cử sang Cộng hoà Dân chủ Đức làm chuyên gia dạy tiếng Việt. Trong 5 năm công tác ở một trường đại học tầm cỡ quốc tế - Đaị học Hum-bôn, bà vừa giảng dạy vừa nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án TS năm 1980. Với sự hiểu biết và những tri thức sâu sắc về tiếng Việt, bà đã cho xuất bản cuốn sách dạy tiếng Việt bằng tiếng Đức. Đây là một cuốn sách dạy tiếng được đánh giá là có chất lượng cao, đặc biệt ở phần ngữ âm. Vì vậy, sau khi nước Đức hợp nhất, nó vẫn được sử dụng làm giáo trình dạy tiếng Việt cho sinh viên ở trường đại học nổi tiếng này.

Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Thị Châu tại nhà riêng năm 2011/Ảnh: Thành Long
Là một phụ nữ duy nhất của tổ bộ môn thời đó nhưng GS. Hoàng Thị Châu không bao giờ chịu nhận sự “ưu tiên” của các đấng “mày râu” trong tổ. Thời sơ tán, bà cũng đã từng cùng sinh viên trèo đèo lội suối lên vùng rừng núi Việt Bắc xa xôi, gắn cuộc đời mình với cuộc sống giảng dạy, học tập của cán bộ sinh viên trong khoa, trong trường. Khi bộ môn triển khai công trình nghiên cứu ngôn ngữ Tày-Nùng, một công trình nghiên cứu trọng điểm của bộ môn những năm đánh Mỹ, bà cũng khoác ba lô hướng dẫn sinh viên đi thực tế, đi xuống tận những hang cùng ngõ hẻm để điều tra tình hình ngôn ngữ của các dân tộc ít người. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu, gần như năm nào bà cũng đưa sinh viên, nghiên cứu sinh cùng các đồng nghiệp đi tới những vùng sâu, vùng xa như: Đồng Văn - điểm cực bắc của Tổ quốc, Điện Biên, Võ Nhai... để ghi chép các ngôn ngữ chưa có chữ viết như Dao, Hà Nhì hoặc những ngôn ngữ có nguy cơ diệt vong như La Chí, Klao... Ở lĩnh vực này, bà có nhiều đóng góp trong nghiên cứu chữ viết và ngữ âm và cũng là một chuyên gia có không ít cống hiến trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở đại học.
Từ năm 1983 đến 1993, suốt 10 năm liền bà đảm nhiệm thêm chức Chủ nhiệm Bộ môn Ngôn ngữ học trong Khoa Ngữ văn. Với cương vị là một nhà quản lý chuyên môn, bà luôn mở rộng sự hợp tác với các đơn vị bạn trong nghiên cứu và đào tạo, đồng thời phối hợp hoạt động nghiên cứu với các đồng nghiệp. Trong khoảng thời gian đó, do yêu cầu về hợp tác quốc tế, bà đã phối hợp cùng một số cán bộ như Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ rồi Diệp Quang Ban hoàn thành một bộ sách dạy tiếng Việt (3 tập) dùng làm tài liệu giảng dạy cho học sinh Cămpuchia.
Điều đáng nói về cuộc đời GS. Hoàng Thị Châu là bà phải sống trong một hoàn cảnh không thuận lợi, nhưng lúc nào bà cũng biết gạt chuyện riêng để nghĩ tới việc chung. Bà có thiệt thòi là gặp cảnh đời tư trắc trở, nhưng chưa bao giờ có ai nghe thấy một lời than thở nào ở bà. Cặm cụi làm khoa học, đồng lương ít ỏi, chắt chiu nuôi hai con trai trưởng thành, bà không mấy khi có thời gian để chăm lo cho cuộc sống riêng của mình. Vậy mà, trong cuộc đời, lúc nào bà cũng đàng hoàng. Đàng hoàng trong lối sống. Đàng hoàng trong ứng xử với học trò và đồng nghiệp, đàng hoàng trong nhân cách khoa học. Với người dưới, bà bao giờ cũng tận tình giúp đỡ. Với người trên bà không bao giờ xu nịnh, xuôi chiều. Nhẹ nhàng trong giao tiếp, lịch sự trong cử chỉ, nhưng bản lĩnh trong khoa học, tự bà đã tạo ra một cá tính, một bản sắc riêng trong cuộc đời hoạt động khoa học. Con người bà là sự kết hợp hài hoà cái phẩm chất can trường của cô nữ du kích và sự duyên dáng của cô nữ sinh giàu tâm hồn, mơ ước của thành phố Huế mộng mơ. Chính sự kết hợp này làm cho bà có đủ bản lĩnh vượt qua những khắc nghiệt của cuộc sống riêng tư mà vẫn giữ được trạng thái cân bằng, năng động trong tư duy. Bởi thế, nhìn vào hành trình khoa học của bà, nhiều đấng “anh hùng” của phái mày râu phải sửng sốt. Trong mấy chục năm bà đã cho xuất bản 7 cuốn sách (thuộc các lĩnh vực khác nhau như: giáo trình, chuyên luận, từ điển) và công bố 56 bài báo (không tính hai năm trở lại đây). Với một nhà khoa học nữ, con số trên quả là một kỷ lục không mấy ai đạt tới. Nó làm cho nhiều người phải kính nể, nhất là trong ngành ngôn ngữ học. Bởi vì có không ít giáo sư, cả đời mà viết được đôi ba cuốn sách cũng trầy trật lắm rồi. Chưa kể vài chục bài báo được đăng trên nhiều tạp chí trong nước và nước ngoài với các ngôn ngữ từ tiếng Việt đến tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh, bà cũng đủ là tấm gương sáng cho tinh thần lao động cần cù, sự học hỏi không mệt mỏi. Với những công lao to lớn ấy bà đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005.
Có biết bao lớp người đã lần lượt trưởng thành từ Khoa ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học, Trường ĐHKHXH&NV có một phần đóng góp của bà. Trong đó có nhiều người ngày nay trở thành các nhà văn, nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, cán bộ giảng dạy đại học, nhà quản lý... Bất cứ ai, mỗi khi nhắc đến cái tên Hoàng Thị Châu, đều có một cảm giác gần gũi, kính trọng. Có thể nói, bà vừa là một nhà giáo mẫu mực vừa là một nhà khoa học luôn làm việc không biết mệt mỏi. Sự nghiệp của bà xứng đáng là một sự nghiệp có tầm vóc trong ngành Ngữ học Việt Nam.
|
GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN HOÀNG THỊ CHÂU
+ 工作地点:河内大学文学院。 1975-1980年,担任德国洪堡大学亚洲研究系客座讲师。 1996-1997年任北京大学东方学系客座教授。 + 管理职位:语言学系主任(文学系)(1983-1993 年)。
越南语在全国范围内使用社会科学出版社,1989年。 为越南少数民族开发一套语音字母表。,国家文化出版社,2001年。 越南语基础教材 1982年由德国百科全书出版社以德文出版。
+ 因这项工作荣获2005年州科学技术奖越南语在全国范围内使用 (1989年) |
作者:副教授。阮友达教授、博士